Ooker's blog

Tôi và thế giới


Leave a comment

Lạc mẹ

ImageViewSuy nghĩ bắt đầu từ sáng nay trên đường đi làm, khi anh vừa lái xe vừa nghe bản tin trên radio.

Đài phát đi thông báo tìm người thân: “Tìm bà Lê Thị X., sinh năm 1954, đi lạc từ ngày 13-5 đến nay chưa thấy về. Khi đi bà mặc đồ bộ vải hoa màu nâu, dép nhựa màu vàng sậm, tóc cắt ngắn. Ai thấy bà X. ở đâu xin vui lòng báo tin về gia đình qua địa chỉ…, số điện thoại… Gia đình chúng tôi xin cảm ơn và hậu tạ”.

Anh chỉ tình cờ nghe được mẩu tin này khi đang chuyển kênh để tìm chương trình yêu thích trong lúc lái xe đến cơ quan. Nhưng anh bị ấn tượng bởi thông tin được cung cấp. Bà X. nào đó đã đi lạc. Trong suy nghĩ của anh thì chỉ có trẻ con mới đi lạc. Trẻ con hiếu động, ham chơi, dễ tuột khỏi tầm tay của cha mẹ.

Trẻ con chưa có nhiều kinh nghiệm sống, chưa biết nếu không tìm được đường về nhà thì sẽ phải làm những gì, nhờ đến ai. Nhưng người lớn thì khác. Dù có đến một nơi xa lạ, khi lỡ lạc đường người lớn cũng có cách để tìm về đúng chỗ cần về. Tất nhiên là với người lớn bình thường, không bị mất ý thức, mất trí nhớ.

Mẩu tin không cho biết tình trạng sức khỏe của người bị lạc. Anh bắt đầu tưởng tượng ra một người phụ nữ khoảng 60 tuổi, tóc ngắn, mặc bộ đồ chấm hoa nâu, đi đôi dép nhựa màu vàng, chắc là loại dép nhựa đế thấp, quai lớn mà các bà già hay mang. Nhưng bà đã đi lạc hơn một tháng, biết bây giờ bà còn mặc cái áo vải hoa nâu đó nữa không? Biết màu vải có còn như cũ hay bụi bặm sương gió làm phai lạt thành màu khác? Đôi dép nhựa còn hay đã đứt quai?

Anh suy đoán người phụ nữ này mặc đồ bộ, chắc không phải bà đang đi đến một nơi nào đó xa lạ rồi bị lạc. Bộ đồ ấy chứng tỏ bà đang ở trong không gian quen thuộc của mình, như ở nhà hay con phố gần nhà. Như vậy có thể bà không bị lạc mà cố tình bỏ nhà đi. Cũng có thể bà gặp một bất trắc nào đó trên đường từ nhà đến chợ rồi không về được nữa. Nhưng anh nghĩ dứt khoát bà không đi lạc.

Anh hình dung ngôi nhà bà đang sống. Chắc bà là mẹ của vài đứa con. Ở tuổi 60 chắc bà cũng đã có vài đứa cháu. Một bà già đi chợ thì có gì để bất trắc? Chỉ có hiểm họa giao thông, nhưng nếu thế thì người ta đã sớm phát hiện rồi. Anh thấy bức xúc, bà này chắc chắn đã bỏ nhà ra đi.

Tại sao 60 tuổi rồi mà còn có quyết định nông nổi ấy? Hay con cháu đã đối xử tệ với bà? Bà đi đâu? Bà có chỗ nào để tá túc suốt hơn một tháng qua hay lang thang đầu đường xó chợ? Anh thắt lòng nghĩ đến cảnh một bà lão mặc bộ đồ chấm hoa màu nâu đã bạc màu, bị rách đôi chỗ, đôi dép nhựa màu vàng mòn vẹt, thất thểu đi giữa phố, đến bữa xin chút cơm thừa canh cặn, tối nằm co ro bên lề đường dưới tán lá cây.

Bỗng dưng anh mủi lòng liên tưởng đến mẹ của mình. Mẹ anh cũng gần 60 tuổi, bà bán nhà ở quê lên sống cùng vợ chồng anh để chăm sóc cháu nội từ khi thằng bé mới chào đời. Nay thằng bé đã học lớp hai. Vợ chồng anh đi làm từ sáng sớm chiều mới về. Thằng con học bán trú, chiều mẹ nó rước về, tắm rửa qua loa, ăn vội thứ gì đó rồi lại đến lớp học thêm. Anh thường về nhà sau 6 giờ tối.

Hai vợ chồng chờ con về mới ăn cơm, lúc đó cũng hơn 8 giờ. Mẹ anh ăn cơm trước, người già thường ăn sớm, ngủ sớm. Thế nên chỉ có cuối tuần cả nhà mới ăn cơm chung, nhưng cũng thường chỉ có mẹ anh ăn với cháu nội, anh và vợ còn phải đi đám tiệc, hiếu hỉ, thể thao, gặp gỡ bạn bè. Vợ chồng cũng còn trẻ, sự nghiệp ổn định, con cái đã lớn, không vướng bận nhiều thì cũng phải tranh thủ tung tẩy cho bõ thời gian vất vả, bận rộn bấy lâu.

Anh ngẩn người ra. Lâu lắm rồi anh không ăn cơm chung với mẹ. Cũng lâu lắm rồi anh không ngồi nói chuyện với bà. Ngoài những câu trao đổi ngắn gọn về chuyện tiền điện, tiền nước và những thứ linh tinh tương tự, hình như bà chẳng còn nói với anh chuyện gì nữa.

Anh quá bận, quá mệt để có thể nghe mẹ nói dài quá ba câu. Trước đây bà còn hay kể chuyện với anh về thằng con nhưng gần đây cũng thưa thớt. Thằng bé ngày càng lớn, càng có nhiều mối bận tâm. Nó cũng như cha mẹ, đang ngày càng xa cách bà. Chắc mẹ anh suốt ngày lầm lũi trong nhà, tivi chuyển hết kênh này đến kênh kia, muốn tìm người nói chuyện cũng khó, nhà ai cũng kín cổng cao tường.

Anh toát mồ hôi. Sống chung nhà nhưng lâu nay mẹ ăn uống ra sao, suy nghĩ những gì anh không hề hay biết. Anh mường tượng cảnh bà ra vào thui thủi, bao nhiêu uẩn ức, bao nhiêu tâm sự không biết có chỗ nào giãi bày? Hình như nay bà gầy lắm. Tóc bà bới cao, dáng gầy, nhỏ bé. Mà sáng nay bà mặc đồ màu gì nhỉ? Chắc là đồ bộ, nhưng anh không nhớ nổi một bộ đồ nào của bà. Nó có màu gì? Chấm hoa gì? Đôi dép bà đang mang có màu vàng hay xanh anh cũng không nhớ nổi.

Bỗng dưng anh thấy khó thở. Anh lấy điện thoại gọi về nhà. Tim anh nghẹn lại trong khi đầu dây bên kia đang đều đặn vang lên những tiếng “reng… reng”.

MỸ NGÂN


Tuổi Trẻ Online, 12/7/2014
http://tuoitre.vn/Cuoc-song-muon-mau/Nhat-ky-thanh-pho/617076/lac-me.html


Leave a comment

Danh sách các danh sách liên quan tới vật lý

Danh sách là để liệt kê. Có nó thì mình sẽ dễ dàng có được một cái tổng quan trước mắt. Nhưng có danh sách các danh sách thì mới là xịn :))

http://en.wikipedia.org/wiki/Outline_of_physics. Kéo xuống phần List.

Trong đó có cái này cũng khá hay: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_important_publications_in_physics

 


Leave a comment

Tản mạn về mảnh bằng Ph.D

Thông tin về làm thế nào để xin học bổng, TA, RA, xin thư giới thiệu, cách viết dự định cá nhân (personal statement), vân vân đầy rẫy trên các mailing lists trên Internet.

Thế nhưng, một số câu hỏi quan trọng mà tôi ít thấy sinh viên hỏi là: “tại sao lại học Ph.D?”, “có đáng bỏ thời gian học Ph.D hay không?”, “làm thế nào để đánh giá mảnh bằng Ph.D?”, “tôi có đủ khả năng để học Ph.D hay không?”, “học Ph.D xong rồi làm gì?”, vân vân.

Có lẽ ta cần một luận án … Ph.D để trả lời phần nào thỏa đáng các câu hỏi trên. Cũng có lẽ có ai đó trong các ngành giáo dục hay tâm lý học đã làm rồi. Về mặt kinh tế thì một người bạn cho tôi biết đã có cả mớ công trình nghiên cứu về “cái giá của giáo dục” (returns to education).

Trong bài viết này, tôi thử lạm bàn lan man xung quanh các câu hỏi trên. Bài viết hoàn toàn không mang tính hàn lâm (academic), nghĩa là sẽ không có các con số thống kê, bảng phân tích, để ủng hộ một (vài) luận điểm nào đó. Sẽ không có tham khảo đến các nguồn thông tin tín cẩn và các thứ tương tự. Tác giả chỉ dựa trên các kinh nghiệm, quan sát, và suy nghĩ cá nhân, sau gần chục năm học và “hành nghề” Ph.D ở Mỹ.

Tôi chắc là một cá nhân khác trong hoàn cảnh của tôi sẽ có không ít ý kiến bất đồng. Tôi cũng không có tham vọng nói hết được những cóp nhặt kinh nghiệm của mình. Ngoài ra, tôi sẽ nhấn mạnh nhiều hơn mặt trái của việc học Ph.D.

Ðiều tôi hy vọng là qua bài viết này, tôi có thể giúp cho các sinh viên (cùng gia đình) sẽ và đang học Ph.D ít nhiều chuẩn bị tinh thần cho đoạn đường chông gai nhưng thú vị này; hy vọng chỉ ra được một góc nhìn khác về Ph.D so với quan niệm chung của xã hội.

1. Ph.D là gì ?

Trước hết ta hãy thử bàn về mảnh bằng Ph.D từ cái nhìn hàn lâm. Ph.D là viết tắt của chữ Doctor of Philosophy. Học bậc Ph.D, cao nhất trong các học bậc, đầu tiên xuất hiện ở Ðức, sau đó được Mỹ và nhiều nước phương tây khác sử dụng. Bằng Ph.D đầu tiên của Mỹ xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19. (Ơ Y’ cho đến những năm 1980 mới có bằng Ph.D.)

Từ Ph.D có gốc latin là Philosophiae Doctor. Chữ doctor nghĩa là “thầy” (teacher), và “chuyên gia”, “chức trách” (authority). Chữ philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời trung cổ (medieval) ở Châu Ảu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: thần học (theology), luật học (law), y học (medicine), và triết học (philosophy). Philosophy ở đây dùng để chỉ các ngành học không dẫn đến một nghề nghiệp thực tế nhất định của thời đó như người của nhà thờ, luật sư, và bác sĩ.

Ðến nay thì không phải Ph.D nào cũng liên quan đến philosophy, cho dù lấy theo nghĩa bóng nhất của từ này. Tuy nhiên chữ doctor vẫn mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Ở phương Tây, trong nghi thức giao tiếp người ta gọi một người có bằng Ph.D là doctor. Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi toàn bộ giảng viên và các giáo sư có bằng Ph.D. Ða số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng Ph.D.

Tuy vậy, điều ngược lại không đúng: không phải tất cả các Ph.D đều có thể làm giảng viên, giáo sư, hay nghiên cứu viên. Có những Ph.D thậm chí chẳng bằng một kỹ sư thông thường. Cũng có khá nhiều Ph.D, sau khi “hành nghề” một thời gian thì lên chức, hoặc chuyển sang làm salesman hoặc làm quản lý, vân vân. Ta sẽ quay lại đề tài này sau.

Cái nhìn hiện đại của Ph.D như sau. Ðể hoàn tất Ph.D, sinh viên phải đạt được hai mục tiêu chính: (a) hoàn toàn tinh thông một ngành (hoặc phân ngành) nào đó, và (b) góp phần mở rộng khối kiến thức của nhân loại về ngành đó.

Mục tiêu (b) là cái lõi để phân biệt bậc Ph.D với các bậc học khác. Ph.D không phải là cái bằng “nhai lại”: đọc nhiều, thi lấy điểm cao là xong. Một Ph.D đúng nghĩa phải có một vài công trình và ý tưởng nghiên cứu của riêng mình (originality).

Về mặt lý thuyết thì là thế. Thực tế ra sao?

2. “Nghề” Ph.D: đoạn trường cũng lắm chông gai

Ở Mỹ, là sinh viên sau đại học (graduate student) cũng là một nghề. (Tôi không dùng từ “nghiên cứu sinh” vì không phải graduate student nào cũng làm nghiên cứu thực thụ, nhất là các sinh viên đang học thạc sĩ.) Các graduate students thường làm TA hoặc RA, với mức lương khoảng 900USD đến 1200USD một tháng (sau thuế), tiền học được bao. Sống tằn tiện thì mức lương này vừa đủ một người sống. Thường thì các gradudate students sống chui rúc trong một căn hộ nhỏ bé nào đó (dĩ nhiên là có ngoại lệ, đa phần do may mắn), hầu hết thời gian dùng ở các phòng lab (phòng thí nghiệm hoặc phòng máy tính) và thư viện. Tối về đến nhà là lăn ra ngủ để rồi sáng mài mèo con lại hớn hở bút chì bánh mì lên đường.

Kể chuyện cuộc sống gradudate students thì có lẽ cần một tiểu thuyết vài trăm trang. Ðiều tôi muốn đề cập là: trong hoàn cảnh làm việc căng thẳng như vậy, một sinh viên thông thường thỉnh thoảng sẽ phải tự đặt câu hỏi “có đáng không?” Nhất là khi công việc học tập và nghiên cứu không trôi chảy. Mà kể cả khi nó hoàn toàn trôi chảy, tính về các mặt kinh tế, tinh thần, thời gian, và … philosophy, câu hỏi trên vẫn hoàn toàn hợp lệ.

Về mặt kinh tế thì lương trung bình của Ph.D ra trường có nhỉnh hơn thạc sĩ (M.S) và bậc đại học (B.S) một chút, nhưng sự khác biệt này không khỏa lấp được lỗ lã cho thu nhập đã mất trong khoảng thời gian làm Ph.D: trung bình từ 4 đến 5 năm. Tính tổng số USD kiếm được cho mỗi giờ học tập thì Ph.D là hạng bét (tính tương đối theo từng ngành học).

Về mặt tinh thần thì làm việc căng thẳng và cật lực trong một thời gian dài trong một môi trường cạnh tranh tương đối công bằng nhưng khắc nghiệt (!) hoàn toàn có thể ảnh hưởng xấu đến tâm lý cá nhân. Ðiều này đặc biệt đúng với sinh viên du học: thiếu thốn các nhu cầu văn hóa và tinh thần cơ bản của quê hương, cơ hội tìm bạn tình hoặc bạn đời bị giảm thiểu (với phái nam), vân vân. Không phải hiếm mà người ta hay thấy bọn Ph.D hơi … gàn gàn. Công bằng mà nói, gradudate students do thiếu thốn văn hóa hay tìm cách nghiên cứu học hỏi thêm cái này cái khác ngoài ngành của mình (nhạc, thơ, lịch sử, chính trị, triết học, …), cho nên bọn gàn cũng có thể rất đa tài. Ở Mỹ thì địa vị xã hội của một Ph.D cũng chẳng hơn gì các nghành nghề khác là mấy.

Yếu tố tinh thần này rất quan trọng. Có không ít các gradudate students cần đến 8, 9 năm mới làm xong Ph.D. Nhiều năm trời “ở mãi kinh kỳ với bút nghiên”, ngoảnh đi ngoảnh lại chưa làm được gì ra hồn mà đã ngoài 30. Khi thị trường việc cho Ph.D bị thuyên giảm thì người ta rơi vào cái vực muôn thuở: “về hay ở”, “về thì đâm đầu vào đâu?”. Nhiều năm làm việc với mức lương vừa đủ sống, các Ph.D mới ra trường hoàn toàn không dành giụm được gì, chưa nói đến việc nợ thẻ tín dụng kha khá. Dù các nhà chức trách đã có kế hoạch đãi ngộ nhân tài, chế độ này vẫn còn xa rời thực tế. Ðầu tư tinh thần và thời gian của một Ph.D quá nhiều để có thể hài lòng với một công việc một vài triệu đồng một tháng. Họ sẽ phải tự hỏi: nếu xưa mình không đi học thì bây giờ cũng có thể đã phây phây lương vài triệu một tháng? Vậy cả chục năm trời bỏ ra công cốc à? Tôi đã nhập nhằng yếu tố tinh thần và kinh tế, nhưng đôi khi ta không tách rời chúng được.

Một khía cạnh khác của yếu tố tinh thần là sức ép của gia đình và người thân. “Người ta 4 năm đã xong Ph.D, vợ con nhà cửa đàng hoàng, bọn không Ph.D thì cũng giám đốc với trưởng phòng, xây nhà to cửa rộng cho bố cho mẹ; còn mày bây giờ ngoài 30 mà vẫn cứ lông bông tay trắng. Ông chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng”.

Về mặt triết học mà nói thì có đáng học Ph.D không? Câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sinh viên: đi học Ph.D để làm gì? Ta sẽ quay lại điểm này trong phần tới.

Bây giờ hãy giả dụ cô/anh Ph.D yêu dấu của ta tìm được một công việc ổn định ở nước ngoài, quyết định ở lại tích lũy tư bản giúp gia đình và tích lũy kinh nghiệm để sau này, cách này hay cách khác, (về) giúp quê hương. Có hai nhánh công việc chính cho một Ph.D mới ra trường: (a) làm việc ở một phòng nghiên cứu chuyên nghiệp nào đó, và (b) một chân giảng viên hoặc giáo sư ở một trường đại học.

(Hai công việc này có thể chỉ có được sau một vài năm làm postdoc nữa. Ta hãy cứ gộp luôn postdoc vào tổng thời gian cho tiện, mặc dù lương postdoc khá hơn lương gradudate students.)

Lương bổng và giá trị của vị trí mới phụ thuộc hoàn toàn vào việc người ta đánh giá Ph.D như thế nào. Tôi sẽ bàn về việc này trước. Tôi cũng có ý nói lan man vềđề tài “định trị Ph.D” sau khi đọc một bản tin ở VNExpress thấy trong nước người ta có nói về đánh giá Ph.D loại “giỏi, khá, trung bình” (sau một buổi họp nào đó). Phạm vi “định trị Ph.D” của tôi chủ yếu áp dụng cho các nghành kỹ thuật và khoa học tự nhiên như điện, điện tử, khoa học máy tính, toán, lý, …

Khi xưa thì giá trị của một Ph.D mới ra trường tùy thuộc vào giá trị công trình nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Sau khi ra trường thì doctor mới sẽ phát triển công trình này thành một vài bài báo đăng ở các tạp chí (journals) và hội nghị (conference) chuyên ngành. Các bài báo này đều được phê bình (reviewed) bởi các chuyên gia đã trưởng thành trong cùng ngành. Các bài báo không đóng góp gì nhiều hoặc vớ vẩn sẽ không được nhận đăng.

Hiện nay thì áp lực đăng báo (publication) của graduate students khi còn đang học lớn hơn gấp bội. Một công việc kha khá ở một trường đại học hay phòng nghiên cứu danh tiếng thường nhận doctor mới với hơn chục bài báo. Trung bình một giáo sư trẻ mới ra trường trong ngành khoa học máy tính có đến khoảng 3-5 journal papers và cả chục conference papers.

Dĩ nhiên số lượng là thứ yếu, chất lượng mới quan trọng. Một công trình chất lượng cao sẽ được nhiều người biết đến rất sớm, và có thể nói không ngoa là nó quan trọng hơn cả trăm bài báo dạng … “bổ củi”. (Bổ củi là tính từ dân gian trong giới khoa học Việt Nam để chỉ các bài báo thường thường bậc trung, ai làm mãi rồi cũng xong.)

Ðối với Ph.D ở Mỹ thì điểm học trung bình khi học Ph.D hầu như không mang ý nghĩa gì cả, ngoại trừ điểm tối thiểu để có thể được tiếp tục học, khoảng chừng 3.3 đến 3.5 trên 4.0, tùy theo trường. Số lượng và chất lượng các bài báo và các công trình nghiên cứu khác (một ứng dụng máy tính chẳng hạn) mới là tiêu chí đánh giá Ph.D. Không có chuyện người ta xếp loại Ph.D trung bình, yếu, giỏi, khá, vân vân. Lý do chính là: làm chuyện này hầu như là vô vọng. Ai có đủ thẩm quyền và thời gian để đánh giá. Kể cả giáo sư hướng dẫn chưa chắc đã biết hết về phân ngành mà sinh viên của mình làm, huống gì người ngoài. Có rất nhiều công trình đăng báo vài năm hoặc vài chục năm sau người ta mới thấy hết giá trị của nó. Cũng có cả tỉ công trình lúc mới đăng thì ai cũng xúm vào khen, nhưng vài năm sau thì lặng tăm.

Dĩ nhiên có khá nhiều các công trình mà người trong ngành đọc biết ngay là “dỏm” hay “xịn”. Nhưng vấn đề chính là không ai có thời gian xếp loại và định trị Ph.D. Ở Mỹ, kinh tế thị trường tương đối công bằng. Ph.D giỏi sẽ được đồng nghiệp biết đến, tìm được việc ở các trường đại học và phòng nghiên cứu danh tiếng, vân vân. Cũng có thể có Ph.D giỏi không tìm được việc, hoặc Ph.D dỏm “lọt lưới” cung cầu. Các trường hợp này đều là ngoại lệ hiếm hoi.

Lại nói thêm về đăng báo. Ta hãy nhớ mục tiêu (b) của Ph.D: đóng góp vào khối kiến thức của nhân loại. Ph.D mà không có bài báo nào thì có 10 Ph.D cũng hoàn vô nghĩa, theo nghĩa tinh khiết nhất của chữ Ph.D. Chí ít, Ph.D phải chia xẻ các thu lượm và nghiên cứu của mình với đồng nghiệp ở một vài hội nghị và journal danh tiếng nào đó.

Các nhà xuất bản khoa học ở phương Tây cũng làm kinh tế. Có rất nhiều các hội nghị và journals hạng bét, bài vớ va vớ vẩn cũng đăng vào được. Chỉ có người trong ngành mới biết được hội nghị và journal nào có uy tín. Mà kể cả ở các nơi có uy tín này ta vẫn có thể tìm thấy các bài báo tồi.

Tóm lại, công việc “định trị Ph.D” hoàn toàn không đơn giản chút nào. Áp lực phải đăng báo đè rất nặng lên vai các gradudate students. Ngược lại, cảm giác công trình của mình được đồng nghiệp công nhận và đánh giá cao cũng rất tuyệt vời!

Trong 5, 6 năm đầu sau khi ra trường, bất kể công việc là giáo sư hay nghiên cứu viên, áp lực viết báo và xin tiền làm nghiên cứu còn nặng hơn khi còn là sinh viên nữa.

(Ở đây ta loại trừ các trường hợp người ta chỉ muốn có Ph.D để theo đuổi nghề giảng viên (lecturer) nào đó. Có lẽ phải khẳng định rằng mục tiêu này cũng cao quí như các mục tiêu “cạnh tranh khắc nghiệt” khác.)

Nếu Ph.D trẻ không khẳng định được mình trong 5, 6 năm đầu tiên này thì thường là sẽ không giữ được công việc của mình. Có lẽ bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được áp lực này nặng như thế nào. Các bài báo đều là các công trình sáng tạo mà trước đó chưa có ai làm, chưa có ai nghĩ ra (chí ít là về nguyên tắc). Làm thế nào mà ai đó có thể đảm bảo một năng suất sáng tạo nhất định trong một thời gian dài như vậy? Có đáng bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một mục tiêu mà phần thưởng về cả kinh tế, tinh thần, triết học, sức khỏe đều khá mập mờ?

3. Tại sao lại học Ph.D? Có nên học Ph.D không?

Ta thử ghi ra đây một phần nhỏ các lý do:

a) Bạn bè đều đi nước ngoài học sau đại học.

b) Ðược xã hội nể trọng, oách ra phết.

c) Ðể học được kiến thức tiên tiến.

d) Không rõ lắm. Từ bé học đã giỏi, thì cứ tiếp tục học.

e) Có lẽ là con đường duy nhất để cải thiện đời sống gia đình và cá nhân.

f) Ðể mở tầm mắt ra những chân trời mới.

g) Ðể sau này về làm giáo sư đại học.

h) Ðể được làm nghiên cứu khoa học.

i) Ðể thay đổi thế giới quan.

……

z) Tất cả các lý do trên.

Và z phẩy) Không làm Ph.D thì làm gì?

Ðối với đa số gradudate students và graduate-students-tương-lai thì câu trả lời là một tập con khá lớn của vài tá câu trả lời mà ai cũng có thể nghĩ ra.

Ta hãy thử phân tích vài chọn lựa quan trọng nhất.

Làm Ph.D để mở mang kiến thức. Ðây là một mục tiêu rất quan trọng và mang tính cá nhân. Mark Twain từng nói: “đừng để trường lớp cản trở con đường giáo dục của bạn” (Don’t let school get in the way of your education). Trường lớp không phải là con đường duy nhất đến Rome của tri thức. Tuy vậy, trong hoàn cảnh lạc hậu của một nước thế giới thứ ba như Việt Nam ta, thì ra nước ngoài học thêm là con đường hữu lý.

Câu hỏi chính mà ta nên đặt ra là chỉ nên học M.S thôi, hay là học cả Ph.D. Chỉ về kiến thức mà nói, thì hai năm M.S cũng đủ cho một sinh viên thông minh sau đó tự học. Làm Ph.D cũng đa phần là tự học thôi.

Làm Ph.D để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được xã hội nể trọng hơn; vì bạn bè ai cũng học Ph.D; có bằng Ph.D rất oách; từ bé đã học giỏi thì cứ tiếp tục học; vân vân.

Một Ph.D thực thụ sẽ cho bạn biết rằng các lý do loại này đều là sai lầm to lớn! Tôi hoàn toàn không có ý định “giảng đạo” về chọn lựa cá nhân của ai. Tôi cũng không nói động cơ “hám bằng cấp” hay “oai oách” là sai trái. Ðó là chọn lựa của từng cá nhân. Ðiểm tôi muốn nói là các động cơ loại này sẽ không thể giúp sinh viên hoàn thành tốt việc học Ph.D. Việc hay so sánh mình với bạn bè và người khác sẽ tạo nên áp lực tinh thần không thể chịu nổi trong khi học. Yêu thích “tiếng tăm” cũng vậy. “Học giỏi”, theo nghĩa ở ta, là thi thố điểm cao và “nhai lại” những gì được dạy, cho nên học giỏi chưa chắc đã liên quan mấy đến khả năng sáng tạo – khả năng sống còn của Ph.D.

Từ khóa dẫn đến thành công của sinh viên Ph.D phải là “đam mê”. Ðam mê học hỏi và sáng tạo trong một phân ngành nhất định! Trừ những người thật sự xuất chúng thì đa số chúng ta sẽ không thể làm thành công Ph.D ở một ngành nào đó chỉ vì “xã hội cần nó”, hay “nó kiếm ra tiền”.

Nếu chỉ đam mê học hỏi không thôi thì cũng không đáng bỏ ra ngần ấy thời gian để làm Ph.D. Ta hoàn toàn có thể làm M.S rồi tự đọc, tự học thêm.

Tất cả các thành quả như chức vụ, danh tiếng, oai oách, vân vân đều phải, và nên, là sản phẩm phụ của quá trình theo đuổi nỗi đam mê sáng tạo và mở mang tri thức này.

Ðấy là nói về “động lực” học Ph.D. Thế còn “khả năng” thì sao? Quá trình học Ph.D lên xuống như hình sin. Sẽ có bao nhiêu trở ngại kinh tế, tinh thần phải vượt qua. Một trong những trở ngại lớn nhất là: sau một vài thất bại trong nghiên cứu, các sinh viên sẽ phải tự hỏi “ta có đủ khả năng làm Ph.D không nhỉ?”

Ðam mê và khả năng tạo thành cái vòng luẩn quẩn. Ta có xu hướng đam mê cái mà ta giỏi, và ta thường xuất sắc ở công việc mà ta đam mê. Nhảy vào được cái vòng này là hành trình cá nhân. Có lẽ không ai trả lời thay ta được.

4. Phụ huynh: xin đừng gây áp lực tâm lý

Không ít các bậc phụ huynh mà tôi được dịp quan sát đặt rất nhiều kỳ vọng vào con em mình về con đường hàn lâm. Họ đầu tư tiền bạc và thời gian, nuôi niềm hy vọng ngày nào đó sẽ có một “trạng nguyên” vinh quy bái tổ, nở mày nở mặt với hàng xóm láng giềng và bè bạn. Chuyện này có ở tất cả các học bậc, không riêng gì Ph.D. Tuy vậy, áp lực ở Ph.D lớn hơn khá nhiều vì graduate students sẽ phải cạnh tranh với các sinh viên xuất sắc trên toàn thế giới.

Tôn trọng tri thức và học tập là điều tốt, và bằng cấp là một thước đo tương đối chính xác của tri thức. Nhưng nó không phải là thước đo duy nhất. Ðó là chưa nói đến các câu hỏi như: đạt được tri thức loại gì thì mới được coi là “thành nhân”? Khó mà có thể đo lường xem một Ph.D và một anh đạp xích lô ai có “đóng góp” nhiều hơn cho xã hội, hay ai “hạnh phúc” hơn ai, theo bất kỳ nghĩa nào của các từ này. Có một ranh giới rất bé giữa “tôn trọng tri thức” và “hám bằng cấp”.

Hy vọng tôi đã hay sẽ thuyết phục được bạn rằng Ph.D cũng thượng vàng hạ cám. Một Ph.D về khoa học máy tính chẳng hạn, nếu làm nghiên cứu về một phân ngành chẳng ai quan tâm, đăng vài bài báo ở các chỗ linh tinh, thì sẽ từ từ xa rời dòng chảy chính của tri thức nhân loại. Có không ít Ph.D về khoa học máy tính lập trình không ra hồn, thua hẳn một kỹ sư thông thường, chính là vì lý do này.

Tôi lại triết lý 3-xu rồi. Ðiều tôi muốn nói là niềm “hy vọng” của các bậc phụ huynh tạo áp lực cực lớn ảnh hưởng đến kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trong khi chọn lựa nghề nghiệp tương lai đáng lẽ nên là chọn lựa cá nhân!

5. Ðạt được Ph.D chỉ là bước đầu

Còn khá nhiều điểm khác tôi muốn nói, nhưng bài đã dài. Lấy Ph.D chỉ là bước đầu rất nhỏ của một nghề nghiệp, cũng như bao nhiều nghề nghiệp khác. Có Ph.D có thể đồng nghĩa với những phần thưởng đáng quí về kinh tế và tinh thần về cả mặt xã hội lẫn cá nhân, nhưng bù lại cái giá phải trả về mọi mặt cũng cao không kém. “Nghề” Ph.D chẳng cao quí hơn nhiều nghề khác, mà thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn khá nhiều.

Cuộc sống và các chọn lựa cá nhân lẽ dĩ nhiên là phức tạp. Tôi hy vọng qua bài viết này các bạn trẻ có thể có một cái nhìn và suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi theo đuổi “con đường đau khổ” này. Ta không thể theo nó chỉ vì các ảo tưởng danh tiếng, bằng cấp và tiền bạc. Ðầu tư như vậy không có lãi!

Một trong những điều kiện cần cho nghề này là khả năng theo đuổi nỗi đam mê nghiên cứu và sáng tạo trong một thời gian dài. Bằng Ph.D chỉ là một bước cỏn con trong hành trình chông gai nhưng thú vị này. Nó hoàn toàn không phải là con đường duy nhất.


Lấy từ website của Ngô Quang Hưng
http://www.cse.buffalo.edu/~hungngo/

Xem thêm: So long, and thanks for the Ph.D.!


Leave a comment

Giấc mơ ngày 18/7/2014

Chẳng biết vì dịp gì mà tôi được vào nhà của đức vua. Đức vua đang ngủ, thế là tôi nảy ra ý định trộm cắp. Thấy có hai cái bịch nylon, một chứa một vài cái thìa súp bằng vàng và kha khá thỏi vàng, bên kia chứa đũa vàng và một vài tờ giấy báo. Lúc đầu định lấy hết, nhưng sao lại chừa lại đũa vàng. Suy nghĩ lúc đó là nếu có bị bắt thì sẽ được giảm tội.

Thành công trót lọt. Về tới nhà là nghĩ ngay phải ra ngân hàng đi đổi số vàng này sang tiền trước khi quá muộn. Tôi đạp cái xe cũ kỹ trong nhà, gói vàng buộc ở đàng sau, đi theo hướng hẻm có nhiều ổ gà. Nhưng muộn rồi, nhà vua đã phát hiện và ra lệnh truy tìm khắp nước. Trong hẻm đang có các dân phòng có nhiệm vụ chặn xe để kiểm tra. Một người đã thấy tôi, nhưng may sao lúc đó có một chiếc xe tải đang de, tôi liền lách vào khoảng không nhỏ rồi thoát ra, quyết định đi theo hướng ra chung cư Cống Quỳnh. Ở đây thì bị bắt thật sự rồi.

Họ đã dừng được xe tôi, đã kiểm tra một bịch không có gì đáng nói và chuẩn bị kiểm tra bịch vàng. Tôi liền nói luôn là trong đó có vàng mà nhà vua đang tìm kiếm. Sau đó mọi người ra ngồi trước vách tường, đợi tôi tường trình (hay thuyết trình). Tôi nói rằng tôi chỉ lượm được bịch này sau cổng trường, do một người nào đó quăng đi. Tôi đang trên đường tới nộp công an. Tôi nhìn họ, thấy họ đã bị thuyết phục, mọi người đăm chiêu suy nghĩ. Tôi cảm thấy cú này qua rồi, cảm thấy trong lòng khấp khởi mừng vì đã lừa thành công. Nhưng nghĩ lại thì thấy những người này còn gà, vì mình nhìn chăm chú như vậy mà không nghi ngờ. Tôi phát hiện điều này nên cũng cố gắng điều chỉnh, nhưng không hoàn toàn tự nhiên như khi nói thật được. Sau khi đổi thành tiền ở ngân hàng, tôi sẽ về nhà đọc cho xong cuốn sách đang còn để ở trên kệ. Đang tính cách làm sao để ngân hàng tin thì một người bỗng dung phát hiện điều gì đó. Người đó hỏi tôi có phải người Công giáo không. Tôi trả lời là không liền kiểm tra cổ tay xem có dấu thánh giá không. Cũng lấy làm lạ là người ta đeo thánh giá ở cổ chứ có ở tay đâu, mà nếu có thì đâu có đeo sát như đồng hồ đến mức mà có dấu. Hỏi tôi có sống ở Bình Dương không. Tôi nói tôi sống ở đây liền rủ nhau vào nhà khám xét. Phen này nguy to rồi, họ mà thấy tên thật của tôi (Phạm Trọng Nhân) trên hộ chiếu là biết chắc ngay. Tôi nói một điều gì đó khiến họ không khám xét nữa, nhưng cũng không cho tôi đi tiếp. Hạn cho một ngày, mai sẽ vào khám xét. Về nhà, tôi phải quyết tâm không đọc cuốn sách đó để nghĩ ra một câu chuyện hoàn hảo với những chi tiết cụ thể và không mâu thuẫn để tìm cách thoát tội.

Giấc mơ kết thúc.


Leave a comment

Giấc mơ ngày 12/7/2014

Đoàn du lịch/thám hiểm của chúng tôi đã đi qua một eo biển ở Trung Quốc, chuẩn bị đi lên biển Hoa Đông. Trên đường đi bỗng dưng thấy một ngã rẽ nhỏ có một thác nước bên trong, liền bỏ lộ trình có trước và rẽ vào. Sau khi leo ngược thác nước để đi lên, chúng tôi liền gặp một mảnh đất rộng lớn. Mảnh đất này xen lẫn giữa sa mạc, savan và thảo nguyên (tức là đôi chỗ có cát, đôi chỗ là cỏ khô, đôi chỗ là cỏ xanh), đặc biệt ở chỗ nó có các ô vuông to nhỏ để canh đất như khi chơi Starcraft. Chúng tôi tiến vào và phát hiện trên mặt đất này, sinh vật rất kỳ quái. Nếu không phải khủng long thì là động vật biến đổi gene. Để tránh bị ăn thịt, chúng tôi chạy thật nhanh đến một cái hang ở phía xa, tuy nhiên một vài người cũng phải bỏ mạng. Tới nơi, mọi người đã thoải mái và bắt đầu nghỉ ngơi. Riêng tôi, tôi phải khám phá vùng đất này cho kỳ được. Thế là tôi cầm một la bàn điện tử (chắc nó là một máy GPS, nhưng không thể hiện được Google Map) đi ra ngoài. Ra ngoài được một lúc, tôi liền bị một con Pterosaur phát hiện và lao tới. Lúc nó chuẩn bị quắp, tôi né qua và nó phải bay lên. Nó bay đi luôn, tôi đứng lại và nhìn đến lúc nó khuất dạng, ngẩn ngơ vì không chạm được nó.

Cuộc hành trình tiếp tục. Hình như tôi cũng phải tránh né một vài con khác nhưng không nhớ nữa. Con Pterosaur đã chiếm hết tâm trí tôi lúc đó. Khi đã xế chiều, tôi đi về nhà, băng qua một cồn cát mọc cỏ. Cỏ mọc ngang đầu gối, không hẳn tươi nhưng cũng không hẳn khô, trên mặt đất vẫn có những đường chia đất. Về đến nhà thì đã tối, mọi người đang chờ. Tôi có cảm giác hơi bực mình vì mọi người không làm gì cả. Về đến nơi thì quên mất vụ thức ăn. Thế là tôi liền vào phòng của mình (chẳng hiểu sao ở cái hang đó lại có phòng mình), lấy vài nhiều quyển sách xuống để ăn. Tôi nói với mọi người phải tiết kiệm vì chưa biết ngày mai thế nào, nhưng lại tự dành cho riêng mình một cuốn sách, lại còn nhấm nháp thêm một tí ở quyển sách của người khác. Mỗi người chỉ ăn có nửa cuốn. Sách ăn không ngon nhưng cũng không nhạt. Trong lúc ăn, tôi cố giữ lại những quyển có giá trị. Có rất nhiều cuốn, nhưng tôi nhớ cuốn mà tôi lôi ra là một cuốn nói về tiếng Việt, nhưng vì không đủ sách vớ vẩn nên đành lòng phải bỏ vài cuốn hay. Mọi người ngồi trên giường ăn rất vui vẻ.

Sau khi ăn, tôi nghỉ ngơi, nằm úp mặt xuống. Bỗng nhiên, có một thân hình nằm áp lên phía trên. Nhìn lên, đó là bạn Linh lớp đại học của tôi. Tôi cảm thấy kỳ lạ. Trước giờ tôi với bạn ấy cũng không phải yêu đương gì, sao giờ lại có cử chỉ thân mật thế này, mà lại là bạn ấy chủ động nữa. Tôi liền đưa tay vuốt cạnh bên của bạn ấy để thăm dò, từ chân lên eo. Phát hiện ra bạn ấy mặc quần jean xanh đậm, áo thì không nhớ. Không có phản ứng gì, chắc là cũng không sao. Một cảm giác ấm áp, nhẹ nhàng lan tỏa giữa hai con người. Lâu lắm rồi mới được tiếp xúc thân mật thế này. Không có dục vọng, chỉ có môt sự ấm áp thích thú.

Giấc mơ kết thúc.

Suy nghĩ: Tôi cũng không thầm thích bạn ấy nên cũng không hiểu sao lại có hình ảnh này. Chắc chỉ là một hình ảnh được não lựa chọn ngẫu nhiên. Nhưng tôi công nhận là trong số các bạn nữ, nếu phải chọn một người đẹp người đẹp nết, tôi sẽ chọn bạn ấy.