Ooker's blog

Tôi và thế giới


Leave a comment

Tại sao lý thuyết Maxwell lại khó hiểu

Trong cơ học lượng tử, cũng như trong lý thuyết Maxwell, Tự nhiên sống trong thế giới toán học trừu tượng của lớp thứ nhất nhưng chúng ta, con người, lại sống trong thế giới cơ học cụ thể của lớp thứ hai. Chúng ta chỉ có thể mô tả Tự nhiên bằng ngôn ngữ toán học trừu tượng bởi vì ngôn từ bằng lời thông thường của chúng ta chỉ có thể mô tả lớp thứ hai.

Source: Tại sao lý thuyết Maxwell lại khó hiểu

Advertisements


Leave a comment

Vẫn cảm thấy buồn chán trong một nền văn hoá giải trí

251236

Hãy để cho trí tưởng tượng của bạn đi lang thang một lúc. Bạn có một buổi tối nhàn rỗi: không có việc gì để làm, không có những trách nhiệm với người khác. Tôi tự hỏi ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu bạn là gì? Đối với nhiều người, đó là một bộ phim (thậm chí hai). Hãy tưởng tượng sẽ như thế nào nếu mất điện hàng tuần và bạn không có TV, máy tính, video, DVD, CD, radio. Chúng ta thấy khó mà tưởng tượng về một cuộc sống như vậy; trong thực tế, một số người sẽ cảm thấy nó đáng sợ. Chúng ta sẽ làm gì với bản thân? Làm thế nào chúng ta có thể sống sót trong cơn khan hiếm những trò giải trí?

Vào một ngày cuối tuần, thành phố St. Louis của tôi có thể mang lại những trận bóng chày và bóng đá thú vị, nhiều buổi hoà nhạc, những bộ phim ở rạp và trên video, những trò chơi và triển lãm nghệ thuật, và quá nhiều kênh TV để xem ở nhà. Làm thế nào mà bất kì ai cũng có thể cảm thấy buồn chán trong nền văn hoá của sự giải trí này? Điều đó dường như là bất khả thi. Nhưng thật trớ trêu, một nghiên cứu hàng năm gần đây về những ý kiến của người tiêu dùng đã tiết lộ một sự tăng vọt của sự buồn chán. Cuộc khảo sát này phát hiện thấy đa số mọi người khao khát nhiều điều mới lạ hơn trong cuộc sống của họ.

CĂN BỆNH CỦA THỜI ĐẠI CHÚNG TA

Chúng ta buồn chán, mặc dù đang sống trong thời đại đặc biệt. Giống như một người dùng thuốc tăng sự chịu được thuốc và cần những liều thuốc lớn hơn để đạt được kết quả tương tự, chúng ta cũng đã phát triển một sự chịu đựng được trước những sự kiện gây bất ngờ, và có lẽ trước những trò giải trí.

Reader’s Digest nhấn mạnh điều này trong một bài báo tựa đề “Làm thế nào để đương đầu với sự buồn chán.” Nó nói, “Mặc cho rất nhiều trò giải trí đa dạng và những nguồn lực của nó, sự điên cuồng với những tiết mục biểu diễn, và cuộc theo đuổi sự giải trí của nó, nước Mĩ vẫn đang buồn chán. Quá nhiều nỗ lực để chống lại sự buồn chán ở Mĩ đã đánh bại bản thân họ và buồn chán đã trở thành căn bệnh của thời đại chúng ta.”

Điều này không chỉ đúng với Mĩ. Ở Anh, một bài báo gần đây trên tờ báo quốc gia lớn đã thông báo Archbishop of Canterbury nói, “Chúng ta là một xã hội đang buồn chán một cách sâu sắc và nguy hiểm và chúng ta không sẵn sàng tìm kiếm nguyên nhân của điều đó. Chuyện gì đã xảy ra với chúng ta?” Ông ấy hỏi “Tại sao chúng ta quá buồn chán?”

NHIỀU THỜI GIAN RẢNH HƠN

Từ giữa những năm 1800, đối với nhiều người thì tuổi thọ và thời gian rảnh rỗi của họ tăng lên rất nhiều. Những người sống vào giữa những năm 1800 làm việc bảy mươi giờ một tuần và có tuổi thọ là 40. Hiện nay ở các nước phát triển, con người có thể làm việc bốn mươi giờ một tuần và tuổi thọ là 70 hoặc hơn. Một tác giả cho rằng điều này đem lại cho một người bình thường khoảng 33,000 giờ rảnh rỗi hơn một người ở giữa những năm 1800.

Không chỉ thế, kiểu hoạt động lúc rảnh rỗi mà con người tham gia ngày nay đã thay đổi. Nhiều thời gian được dành để ngồi một mình trước thiết bị điện tử giải trí. Trước đây thời gian thường sẽ được dành cho gia đình: chơi nhạc, kể chuyện, và giao lưu với bạn bè và cộng đồng địa phương. “Thời gian ở một mình” cũng tăng lên khi mọi người chuyển khỏi các cộng đồng nông thôn nhỏ hơn sang các thành phố công nghiệp, nơi dễ có được sự vô danh.

Bây giờ, khi chúng ta về nhà, hiếm khi chúng ta ở bên nhau để chơi nhạc hoặc chơi các trò chơi. Chúng ta không còn cần đến những người hàng xóm của mình nữa. Chúng ta về nhà, đóng cửa lại và tìm đến những nơi giải trí riêng tư của mình.

GIẢI TRÍ QUÁ MỨC

Gene Veith viết, sự buồn chán là một triệu chứng kinh niên của một thời đại ám ảnh bởi lạc thú (trang 41).

Sự buồn chán dễ dàng được nhận ra khi không có việc gì để làm. Nhưng quan điểm cho rằng có quá nhiều trò giải trí làm tăng sự buồn chán thì sao? Chúng ta không chỉ có những trò giải trí và thông tin đến với chúng ta thường xuyên ở nhà, mà còn có những thứ cố làm cho chúng ta được giải trí ở hầu hết những nơi chúng ta đi đến. Trên máy bay chiếu phim. Xe hơi có máy radio, máy CD và DVD. Và khi chúng ta dừng ở một cây xăng, tôi ngạc nhiên khi thấy một màn hình video nhỏ ở mỗi máy bơm xăng, để đảm bảo rằng tôi sẽ không thấy buồn chán trong vài phút đổ xăng!

Khi kích thích đến từ mọi phía, chúng ta đạt đến một ngưỡng không có khả năng phản ứng với chiều sâu hơn trước bất kì điều gì nữa. Sự buồn chán chúng ta cảm nhận ngày nay có lẽ đến từ sự quá tải hơn là sự thiếu thốn.
Sự kích thích quá mức được cảm nhận nhiều nhất trong ngành công nghiệp quảng cáo và giải trí. Thay vì tạo ra sự giải trí của riêng chúng ta thì chúng ta lại dựa vào radio, TV, phim, video game, lướt web…Tôi không nói rằng những thứ đó bản chất là xấu. Vấn đề xảy ra khi chúng ta phụ thuộc vào chúng quá nhiều. Ngày nay, bạn không cần phải nỗ lực để làm mình được giải trí. Một người có thể trở thành một kẻ suốt ngày dán mắt vào TV và để nó giải trí cho họ. Cuốn sách của Neil Gablar, Life: The Movie, How Entertainment Conquered Reality chỉ ra làm thế nào mà mọi thứ thời nay cần phải thú vị thì mới thu hút được sự chú ý của chúng ta. Sự giải trí trở thành thước đo chính của giá trị. Truyền thông tạo nên những kỳ vọng cho chúng ta đến nỗi cuộc sống đời thường trở nên ngày càng nhàm chán và chúng ta càng bất mãn nhiều hơn. Giống như những người nghiện ma tuý, chúng ta muốn một kích thích lớn hơn lần tới.

Thêm nữa, đối với tâm trí thời nay thì cái hay và cái đẹp dường như tẻ nhạt và không kích thích. Chúng không mang lại mức adrenaline hoặc testosterone như bạo lực và tình dục. Hành vi bất thường được chiếu để thu hút chúng ta, như trong các chương trình TV như Jerry Springer.

Và khi nghĩ đến những sự cực đoan thì người ta đang ngày càng hứng thú với những trò thể thao mạo hiểm. Trong tạp chí Outside, một người chơi môn thể thao nhảy từ trên máy bay chuyên nghiệp nói, “Chỉ khi nào cơ thể tôi đang gào thét xuống mặt đất mới làm tôi cảm thấy mình đang thực sự sống nhất.”

Còn với những người không ham muốn sự kích thích cực độ đó thì họ có thể tìm thấy nhiều kiểu giải trí ở vô số trung tâm mua sắm, nhà hàng, câu lạc bộ thể hình, hiệu sách, câu lạc bộ tennis, golf, rạp phim, những buổi hoà nhạc.
Tất cả những điều này đã làm gì với chúng ta? Tôi sẽ khuyên bạn rằng khi bị vây quanh và tham gia vào tất cả những trò giải trí này sẽ làm cằn cỗi trí tưởng tượng và những khả năng sáng tạo của chúng ta. Và nó làm suy giảm những nguồn lực bên trong chúng ta để tạo ra và tìm thấy sự giải trí. Nó giống như việc không còn dùng đến những cơ bắp của chúng ta nữa; cuối cùng chúng ta không biết làm sao để sử dụng những cơ bắp của trí tưởng tượng. Khi những nguồn lực bên trong của chúng ta teo lại, thì chúng ta cần nhiều kích thích hơn nữa từ thế giới bên ngoài, để đạt được mức độ giải trí và cảm giác kích thích tương tự.

TỪ QUẢNG CÁO ĐẾN SỰ THỜ Ơ

Xã hội của chúng ta không chỉ bị tấn công tới tấp bởi vô số sự lựa chọn về giải trí mà chúng ta còn đối mặt hằng ngày bởi những thông điệp đến từ ngành công nghiệp quảng cáo được tạo ra để làm chúng ta cảm thấy bất mãn và buồn chán với những gì chúng ta đang có và con người chúng ta là ai. Có lẽ một số người trong xã hội chúng ta thường xuyên cảm thấy thất vọng bởi những lời hứa hẹn từ quảng cáo dối trá đến nỗi họ đã chấm dứt những khao khát sâu sắc nhất của họ và trở nên thờ ơ và buồn chán.

CHỐNG LẠI SỰ BUỒN CHÁN

Rõ ràng một số thứ trong cuộc sống là tẻ nhạt. Một số công việc vốn tẻ nhạt và chán ngắt, nhưng cách chúng ta tiếp cận chúng mới là quan trọng. Sự buồn chán có thể là một kích thích lành mạnh để hành động và là một thách thức để sử dụng óc sáng tạo của chúng ta. Và khi đối mặt với những phần tẻ nhạt nhất của cuộc sống, chúng ta phải nhớ đến bức tranh tổng thể đem lại ý nghĩa cho những điều nhỏ bé. Khi tôi đang sửa máy cắt cỏ lần thứ sáu và cắt cỏ 16 lần trong mùa đó, tôi phải nhớ rằng điều này góp phần tạo ra một nơi tươi đẹp trong khu vườn của tôi, một nơi mà mọi người có thể thưởng thức. Điều quan trọng là nhớ về bức tranh tổng quát khi rửa bát, giặt đồ và hỏi bản thân điều này phù hợp như thế nào với toàn thể cuộc sống và cuộc hôn nhân và gia đình…

Chúng ta cần phát triển niềm say mê thích thú trước những điều đơn giản và bình thường—như chúng ta nói, dừng lại và ngửi những bông hoa hồng. Đây là nơi mà sự bận rộn và phụ thuộc vào sự giải trí liên tục đã ngăn không cho chúng ta trau dồi sự ngạc nhiên trước những điều bình thường của cuộc sống. Mary Pipher viết, “Cuộc đời chân thực nhất phần nào là thanh bình và mang tính lề thói. Phần lớn những niềm vui là những niềm vui nhỏ bé: một lần tắm nước nóng, hoàng hôn, một bát súp ngon, một cuốn sách hay. TV cho rằng cuộc sống là sự kịch tính cao, là tình yêu và tình dục . . . Những hoạt động như làm việc nhà, dạy con đọc, rất ít được chiếu. Thay vì tôn vinh những trải nghiệm đời thường, TV lại cho rằng chúng không đủ thú vị.”

Cuối cùng, chúng ta đối mặt với một sự lựa chọn. Chúng ta có thể chọn lướt web, lướt qua các kênh TV, lướt sóng để thoả mãn cơn khát một điều gì đó nhiều hơn để xoa dịu nỗi buồn chán của mình. Hoặc chúng ta có thể chọn đáp lại tiếng gọi của tình yêu và phục vụ Chúa, người hứa hẹn phần nào trong lúc này và trọn vẹn trong tương lai sẽ thoả mãn khao khát về ý nghĩa cuộc sống của chúng ta, giúp chúng ta kiên nhẫn chịu đựng những lúc buồn chán và thất vọng không tránh khỏi. Và khi chúng ta sống trong mối quan hệ với Chúa, quan điểm của chúng ta về những thứ tẻ nhạt, buồn chán và khó khăn của cuộc sống dần dần thay đổi

———–
Trích từ cuốn sách “Still Bored in a Culture of Entertainment” của tiến sỹ Richard Winter, phát hành tháng 10/ 2002.

Đăng lại từ yeutamly.com


Leave a comment

Vấn đề Việt Nam – Campuchia

Cách đây lâu rồi, tôi có hân hạnh được đọc bản thảo cuốn “When broken glass floats” của Chanrithy Him trước khi nó được xuất bản và trở thành một cuốn sách bán chạy khắp thế giới. Tôi đọc say mê, tím tái cả thân thể bởi câu chuyện rùng rợn của một đứa trẻ sống dưới chế độ Khơ-me Đỏ. Chỉ đến khi đọc tới câu cuối cùng, tôi mới như bị dội một xô nước lạnh vào mặt. Chanrithy nói rằng, cô “…thoát chết trong gang tấc, và trái tim cô gái nhỏ thắt lại, bởi cùng với nỗi khổ hạnh đã qua, cô nhìn thấy đất nước Campuchia đang chuẩn bị chìm trong bóng tối cuộc xâm lược từ một kẻ thù truyền kiếp: Việt Nam”.

Những cuộc biểu tình phản đối Việt Nam, những cuộc đụng độ và bài trừ dân Việt ở Campuchia đã diễn ra từ tháng 7 năm ngoái khi chính quyền thân Việt của Hun Sen thắng cử với nhiều cáo buộc gian lận. Đỉnh điểm vào ngày 6-6, Tham tán ĐSQ Việt Nam Trần Văn Thông tuyên bố rằng miền Nam VN đã chính thức thuộc về VN từ rất lâu, trước cả khi Pháp chiếm đóng. Bắt đầu từ tuyên bố này, cờ Việt bị đốt, người Việt bị thanh trừng, lãnh đạo đảng đối lập liên tục gọi thiểu số Việt là “yuon” (savage/man rợ [*]), một bộ phận dân Cam biểu tình đòi lại vùng Nam Bộ Tây Ninh, ngày 9/10 Cambodia Daily đưa tin người biểu tình đốt tiền VN và dọa đốt sứ quán. Trên face của tôi, bạn bè quốc tế liên tục inbox hỏi thăm, bàn bè làm ăn ở Cam cũng cập nhật tình hình lo ngại, báo chí quốc tế hối hả bình luận. Nhưng đương nhiên, cả trăm triệu dân Việt ở ngay sát nách Campuchia phần lớn vẫn nằm duỗi chân ăn mừng quốc khánh của dải đất hình chữ S. Tại sao báo chí VN không đưa tin đầy đủ?

“Nước mày hình chữ C thì có, “Cờ” … kứt ý!” – một bình luận viên gõ như vậy trên một facebook cá nhân mà tôi quen. Hẳn nhiên, comment vô văn hóa này không thể khiến tôi ngồi yên. Căm ghét kẻ dám xúc phạm quê hương là một chuyện, nhưng tôi cũng thấy mình có trách nhiệm phải đi tìm bằng được những lý giải cho nỗi căm ghét đó. Lịch sử ngày bé tôi học chỉ thấy nói người Cam biết ơn người Việt, đâu có nói đến sự căm hận đến mức như vậy?

Một bài viết trên báo Campuchia ngày 6-9 đưa lời dẫn của môt thanh niên Cam “17/20 người trong số bạn bè của tôi ghét VN, và cho rằng VN có âm mưu mờ ám”.. Bài báo cũng nêu ra thực trạng của nhiều người Việt ở Cam, không có quốc tịch, con cái không được đến trường, không được mua đất, chủ yếu sống trên thuyền với nghề sông nước.
http://www.phnompenhpost.com/post-weekend/out-20-my-friends-17-hate-vietnamese
(Xem bản dich tiếng Viet của Khanh Nguyen ở cuối bài)

Lịch sử (chính thống) luôn được viết bằng ngòi bút của kẻ chiến thắng (Churchill). Chính vì vậy, để trả lời cho câu hỏi tại sao một bộ phận dân Cam ghét VN, tôi quyết định chọn đọc những tư liệu của bên thứ ba, tức là những tư liệu được viết bởi những tác giả không phải người Việt hoặc Cam, và ít có liên quan nhất đến cả Việt Nam và Campuchia. (Tất nhiên không tài liệu nào hoàn toàn khách quan cả, nhưng “không Việt không Cam” thì sẽ dễ có khả năng khách quan hơn). Sau đây là tóm tắt một cách sơ lược nhất. Đề nghị các bạn tìm danh sách tư liệu tham khảo bên dưới để đọc chi tiết.

Vương quốc Khmer nằm kẹp giữa hai láng giềng lớn Việt Thái dần dần mất đất từ nhiều lý do khác nhau. Người Campuchia có câu: “cây thốt nốt mọc đến đâu, đất (xưa) của người Cam trải dài đến đó”. Sách sử Việt Nam có một cách gọi khác, hào hùng hơn: “mang gươm đi mở nước”. Hẳn nhiên, đây là một đường đi phát triển tất yếu của xã hội loài người “cá lớn – cá bé” ở đâu cũng vậy. Đường biên của các bộ lạc, thành phố tự trị, lãnh thổ chư hầu, đế chế và nay là quốc gia đã luôn luôn đổi thay dựa vào thế mạnh yếu từng thời kỳ của từng xã hội. Lịch sử mà VN gọi là “mang gươm đi mở nước” thực chất là một quá trình lâu dài và phức tạp của nhiều yếu tố chứ không chỉ là thanh gươm: di dân, đồng hóa, áp đặt, thỏa hiệp, và cả đánh chiếm từ Bắc xuống Nam (đề nghị xem thêm các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Chính vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng nuôi ít nhiều hằn thù với các nước láng giềng bởi những hiềm khích không thể tránh khỏi trong quá trình xác định biên giới bờ cõi. Đối với người Cam, đế chế Khmer rộng lớn khi xưa bị mất hẳn là một lịch sử tơi bời, và điều này có thể khiến chúng ta hiểu tại sao Campuchia chưa bao giờ hết xích mích với người Thái và chưa bao giờ tin tưởng vào người Việt.

Khi Việt Nam với tham vọng thành lập một liên mính chống Pháp trên toàn Đông Dương, trực tiếp giúp thành lập Đảng dân tộc cách mạng Campuchia (tiền thân của Đảng Cộng sản Campuchia, tức Khmer Đỏ), thì hai bên trở thành đồng minh thân thiết. Tuy nhiên, đằng sau vỏ đồng minh là niềm uất hận mất nước không bao giờ nguôi ngoai, thậm chí biến thành dã tâm tiêu diệt 50 triệu người Việt đến kẻ cuối cùng. Khmer Đỏ cho rằng Việt Nam âm mưu thành lập Khối Đông Dương (Indochina Federation) và dắt mũi các nước khác trong đó có Campuchia. Với hai lý do này, Khmer Đỏ yêu cầu Việt Nam trả lại đất tổ tiên (đề nghị xem chi tiết ở các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Với quân số nhỏ hơn nhiều lần, nhưng Khmer Đỏ liên tục thực hiện các cuộc tàn sát đẫm máu dọc biên giới Việt – Cam làm hơn 300.000 người Việt Nam thiệt mạng. Ngày 17-4-1977, chính quyền VN vẫn còn gửi thông điệp chúc mừng chính quyền Khmer Đỏ sau 2 năm thành lập. Đáp lại lời chúc này, 2 tuần sau, đúng dịp 30-4, quân Khmer bất ngờ tấn công thẳng vào An Giang và Châu Đốc, giết hại hàng trăm dân thường. Việt Nam buộc phải đáp trả. Cuối cùng, (1) chịu không nổi những cuộc đụng độ và tàn sát dã man, (2) cộng với lý do cho là Campuchia cấu kết với Trung Quốc, cực chẳng đã, Việt Nam quyết định nghe theo Liên Xô chính thức kết thúc mối quan hệ đồng minh lúc đó chỉ còn trên danh nghĩa và lật đổ chính quyền Khmer Đỏ bằng vũ lực. Lưu ý lúc đó TQ đối đầu với Liên Xô. VN là đồng minh của Liên Xô còn Khme Đỏ là đồng minh của TQ. Liên Xô muốn hất cẳng TQ ở khu vực nên ủng hô Việt Nam đánh Khme Đỏ là đồng minh của TQ.

Lấy cớ Khmer phạm tội diệt chủng, quân VN tiến vào “giải phóng” Campuchia, lật đổ chính quyền của kẻ từng là đồng minh. Lưu ý rằng truyền thông VN được chỉ đạo tuyên truyền đây là nghĩa vụ quốc tế. Lý do Khmer Đỏ “giết người Việt” không được nhấn mạnh bằng lý do Khmer Đỏ “diệt chủng người Cam”. Việc VN đưa quân vào Cam vì thế được nhấn mạnh là “nghĩa vụ quốc tế”, tạo tiền đề cho kế hoạch của VN tại Cam sau này (đề nghị xem thêm các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Tuy nhiên, VN không ĐÁNH rồi RÚT, mà dựng nên chính quyền bù nhìn thân Việt và bắt đầu thời kỳ hơn 10 năm đóng quân và ảnh hưởng. Lý do tại sao thì có rất nhiều (mời đọc thêm các tư liệu ở dưới), trong đó quan trọng nhất là việc Việt Nam muốn diệt hoàn toàn tàn quân Khmer Đỏ chứ không chỉ làm sụp đổ chính quyền cầm quyền. Có lẽ sự man rợ của Khmer Đỏ khiến VN không thể chấp nhận dù một chút rủi ro từ phía các tàn quân. Lưu ý rằng đến tận năm 92, khi các hiệp định quan trọng đã được ký kết thì Khmer Đỏ vẫn tiếp tục tìm giết người Cam gốc Việt với hy vọng họ sẽ không thể bỏ phiếu. Bản thân VN cũng cho rằng đây là một sai lầm chiến lược vì Việt Nam đã “dính líu quá sâu và quá lâu vào vấn đề Campuchia” (Hồi ký Trần Quang Cơ). Cũng có ý kiến cho rằng VN ban đầu tự vệ và giải phóng Capuchia, sau đó do chạy theo “tham vọng” lớn mà trở thành “sa lầy” ở đây trong một ván cờ của hai nước lớn Trung Quốc đối đầu với Liên Xô (đề nghị xem thêm các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Trong khi người Việt gọi đây là cuộc giải phóng nước láng giềng anh em và giúp bạn xây dựng đất nước, thì chính bản thân người Cam và hầu hết các tư liệu lịch sử ngoài biên giới VN lại cho rằng đây là cuộc xâm lược – (invasion). Khi tôi đến nhà tù S21 nơi trưng bày hàng trăm cái đầu lâu của dân Cam bị giết, thì nơi đây, đáng lý phải coi là tượng đài của việc người Cam biết ơn người Việt thì giấy trắng mực đen trên các tấm bản hướng dẫn khách tham quan vẫn tuyên bố Việt Nam “xâm lược” Campuchia.

Tại sao người Cam coi VN là quân xâm lược dù đã cứu họ thoát khỏi chế độ diệt chủng? Một lý giải cho cách hiểu này (theo như các tài liệu đưa ra ở dưới) là do VN không bó hẹp các hoạt động của mình tại Cam trong phạm vi quân sự để tiêu diệt tàn quân Khmer, mà sau đó đã nhúng tay quá sâu vào chính trị, áp đặt ảnh hưởng của mình lên chính trường Campuchia, hoặc có những chính sách thiếu khôn khéo khiến nhiều người Cam cho rằng VN không chỉ kết thúc chế độ diệt chủng mà còn đang lũng đoạn hệ thống chính trị Cam. Cần phải phân biệt rõ ràng hai chuyện này với nhau, vì đây là hai thái độ tình cảm riêng biệt. Họ mang ơn vì một chuyện (Khmer Đỏ), nhưng sau đó thành mang oán vì những chuyện hoàn toàn khác (thao túng chính trị + cho là VN lấy đất). (Một số bạn comment ở dưới thêm vào lý do một số người Việt làm ăn quá mức tinh quái đến thành lừa lọc nên bị người Cam ghét) .

Tuy nhiên, Trung Quốc coi việc VN dựng lên chính quyền bù nhìn thân Việt là một hành động qua mặt “láo xược” của đàn em, cộng với việc ViệtNam ký kết hiệp ước với Liên Xô được TQ cho là có mưu đồ bành trướng khu vực, nên đã khơi nguồn cuộc chiến tranh biên giới 79 để chia lửa với Khmer Đỏ, và để dằn mặt, nhằm bắt Việt Nam dời quân từ phía Nam lên phía Bắc, tạo điều kiện cho Khmer Đỏ lấy lại sức mạnh (xem trích nguồn bên dưới **).

Trong thời kỳ trụ lại Campuchia, Việt Nam bị dư luận thế giới lên án mạnh mẽ với lý do đã dùng vũ lực chiếm đóng nước khác. Nhiều tư liệu cho rằng các quyết định của chính quyền Campuchia trong thời kỳ này đều phải qua sự kiểm duyệt cuối cùng của VN. Mỗi bộ trưởng Cam đều đi kèm một cố vấn người Việt, chưa kể các cố vấn cho thứ trưởng. 80 nước trên thế giới và Liên Hiệp Quốc công nhận chính quyền Khmer Đỏ là chính quyền duy nhất đại diện cho Campuchia, phủ nhận chính quyền bù nhìn do VN lập nên. Việt Nam không được phép ra nhập nhiều tổ chức kinh tế quốc tế như IMF. Thụy Điển – một nước từng hết sức ủng hộ VN cũng rút toàn bộ viện trợ. Nhiều quốc gia dù CÔNG NHẬN CÔNG TRẠNG của VN trong việc xóa bỏ chế độ man rợ của Khmer Đỏ, nhưng lại không tin rằng ý đồ nguyên thủy của VN là thực sự muốn kết thúc chế độ diệt chủng Khmer. Nhiều nước coi việc VN đánh đổ Khmer chỉ là hệ quả phụ của một ván bài chính trị mà VN có thể vừa là người chơi vừa là nạn nhân. Nhiều nhà sử học đặt giả thuyết nếu Khmer Đỏ không tàn sát dã man người Việt thì hai bên vẫn sẽ tiếp tục là đồng minh, cho dù dân Campuchia có thể bị diệt chủng (xin xem thêm chi tiết trong các tài liệu bên dưới).

Từ góc nhìn này, Thaí Lan – một nước chưa bao giờ cảm thấy thoải mái vì cho rằng VN có tham vọng lớn ở Đông Nam Á, sợ rằng VN sau khi thôn tính Cam sẽ nuốt chửng cả Thái Lan- đã cưu mang những thành viên thất trận của Khmer Đỏ, cùng khối ASEAN yêu cầu VN lập tức rút quân để người Cam có thể thực hiện một cuộc bỏ phiếu mà không bị ảnh hưởng của thế lực nước ngoài. Một số nghiên cứu thậm chí cáo buộc VN vi phạm nhân quyền khi phong tỏa lương thực các vùng do tàn quân Khmer Đỏ chiếm giữ, khiến hệ quả phụ là hơn 600.000 dân Campuchia chết đói (xem trích dẫn nguồn ở dưới**).

Việt Nam có lẽ sẽ còn trụ lại Campuchia lâu hơn thời gian 10 năm nếu Liên Xô và hệ thống các nước XHCN không sụp đổ. Mất sự ủng hộ từ Liên Xô, chính quyền VN lúc đó buộc phải cầu hòa với TQ để tìm chỗ dựa/ anh cả mới. Kết quả của sự đổi chiều này chính là Hội nghị Thành Đô (Chengdu secret meeting) , được tổ chức bí mật và cho đến nay vẫn không hề được công bố. Lấy cớ hai nước cùng chung lý tưởng cộng sản, Lê Đức Anh tuyên bố: ” Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc”

Tuy nhiên, phía TQ một mực yêu cầu sẽ chỉ chấp nhận bình thường hóa quan hệ nếu Viet Nam hoàn toàn rút quân khỏi Campuchia. Trong cuốn Hồi Ký Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao, ghi rõ “kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là “Biên bản tóm tắt” gồm 8 điểm, có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong 7 điểm về Campuchia, 2 điểm là những điểm có tính chất chung về mặt quốc tế mà 2 bên đang còn tranh cãi (giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia; rút hết quân Việt Nam ở Campuchia, còn 5 điểm thì hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc. Không có điểm nào theo yêu cầu của ta cả.”.

Để đổi lại sự ủng hộ của TQ, chính quyền VN không những phải bác bỏ luận điệu chính trị của chính mình suốt 10 năm, coi TQ là kẻ thù, phải từ bỏ ảnh hưởng cuả mình tại Campuchia, rút quân toàn bộ khỏi Cam, mà thậm chí phải sửa đổi cả Hiến Pháp . Hiến pháp năm 1980 gọi TQ là “bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược” nhưng Hiến pháp năm 1992 bỏ hẳn. Cuộc chiến biên giới năm 79 cũng gần như bị xóa khoỉ sách giaó khoa và các tư liệu lịhc sử đại chúng. Mỗi năm đến ngày kỷ niệm, báo chí không được phép đưa tin. Năm 2013, chỉ có duy nhất tờ Thanh Niên đưa headline Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979, và được coi là một tờ báo dũng cảm.

–> Từ những tư liệu đọc được trên đây, cộng với viêc người Việt lâu nay vốn hay có ý coi thường người Cam, tôi đã có thể hiểu được sự kiêu hãnh/ thậm chí thành kể cả ngạo mạn của kẻ tự cho mình là quân giải phóng cứu dân Cam khỏi họa diệt chủng, sự mù mờ dối trá của môn lịch sử đang giảng dạy tại nhà trường (mà thực chất là môn chính trị học, sàng lọc sự kiện)… là những lý do khiến Việt Nam thiếu sự đề phòng với đất nước láng giềng vẫn còn như con thú bị thương này. Bạn tôi nói một bộ phận người Cam nhìn người Việt còn nhiều nghi ngờ sâu sắc hơn cả người Việt nhìn người Trung Quốc. Những người biểu tình chống VN hiện nay ở Cam không chỉ đòi lại đất ngày xưa mà còn yêu cầu người phát ngôn của VN rút lại lời tuyên bố hồi tháng 6 về thực trạng chủ quyền một phần miền Nam VN trước khi Pháp đô hộ. Những kẻ cực đoan và bị kích động thì yêu cầu đuổi người Cam gốc Việt về nước. BBC đã có phóng viên tường thuật tại buổi biểu tình về vấn đề đòi đất của người Cam ngày 6-9.

Sẽ còn mất nhiều thời gian để chúng ta hiểu rằng tại sao 15.000 chiến sĩ hy sinh xương máu ở Campuchia với 30.000 người bị thương mà một bộ phận dân Campuchia lại nhanh chóng chuyển từ biết ơn sang oán thán? Tại sao 5% thiểu số người Việt phần lớn là dân nghèo làm nghề chài lưới hiện ở Cam bị một số người bản xứ nhìn nhận như kẻ thù hơn là những người nhập cư đến làm ăn sinh sống? Bản thân tôi sẽ phải tự đi tìm câu trả lời tại sao gia đình của chính mình phải chịu cảnh chia cắt khi đất nước đã thống nhất mà người đàn ông (ba tôi) vẫn phải tiếp tục lên đường cầm súng ở một chiến trường khác ? Tại sao Khmer Đỏ gọi Việt Nam là “cá sấu”? Cuốn sách đen (The Black book) của Khmer ám chỉ rằng chẳng ai tin con cá sấu, kể cả khi nó rơi nước mắt.

Vậy tại sao tôi viết post này? Lý do thứ nhất đơn giản vì báo chí VN không đưa tin, hoặc đưa tin nhỏ giọt. Bất kể một người dân bình thường nào cũng có quyền được biết nếu quốc kỳ của họ bị đốt ở một xứ ngoại bang. Họ có quyền được biết, và có quyền được hiểu tại sao lại nên cơ sự. Có bạn bảo là tôi đổ dầu vào lửa. Ơ hay, ở Cam mới có lửa chứ ở VN thì đã làm gì có dầu mà đòi châm lửa. Nhiều người Việt không hề biết cờ Tổ Quốc bị đốt, rằng người láng giềng ghét mình như mẻ, thậm chí đòi lại đất cho là “bị cướp” thì tôi dựng cột khói báo tín hiệu cho hay. Nghe tin dữ yếu tim không chịu được thì mắng người đưa tin là sao? Lại nữa, có bạn kêu vừa đi Cam về xong, chả thấy gì? Đương nhiên là bạn không thấy gì rồi. Bạn muốn trước khi người ta đốt cờ VN sẽ gửi email thông báo đến tất cả mấy chục triệu người ở khắp Campuchia để họ và bạn chuẩn bị mang máy ảnh đến chứng kiến chắc? Hay là bạn muốn bản thân mình ngồi trong quán cà phê mà thấy được tất cả những gì diễn ra ở mọi xó xỉnh trên đời? Ai mà cũng như Phật Bà ngàn mắt ngàn tay thấy được mọi thứ như thế thì cần cóc gì đến báo chí? Trong cuốn Con Đường Hồi giáo tôi vừa xuất bản, có hẳn một chương tôi ở Syria cả tháng trời giữa lúc đất nước nội chiến mà chẳng thấy một giọt máu. Bạn “không -thấy-gì” không có nghĩa là “không-có-gì” xảy ra.

Thứ hai, tôi cho rằng sách sử Việt Nam không đưa ra cái nhìn khách quan chân thực. Hẳn nhiên, chúng ta sẽ không-bao-giờ có được cái nhìn khách quan tuyệt đối, nhưng với sự va chạm của những nguồn tư liệu khác nhau không bị kiểm duyệt, chúng ta có thể cố gắng chạm vào gần hơn đến Sự Thật.

Lý do thứ ba, tôi muốn hiểu tại sao người Cam chưa bao giờ ghét người Trung Quốc như ghét người Việt, dù TQ từng chống lưng Khmer Đỏ, thậm chí từ trước khi TQ đầu tư hàng tỷ đô la vào đây và viện trợ đầy phóng khoáng cho Cam? Tại sao Campuchia bỏ phiếu phản lại nỗ lực của khối ASEAN bảo vệ chủ quyền biển Đông chống Trung Quốc tại hội thảo ASEAN 2 năm trước?

Tại sao bên cạnh rất nhiều những người Cam yêu VN lại có những người Cam ghét người Việt đến thế? Tại sao cờ Tổ Quốc tôi bị đốt cháy? Tại sao người Việt ở Cam đang ngày đêm lo sợ?

Tại sao xương máu của bao người Việt ngã xuống mà vẫn không thể đổi lại được lòng tin và tình bằng hữu của nước láng giềng? Tại sao VN tốn kém sức người sức của đến thế mà đổi lại chỉ là một sự nghi ngờ từ phía dân chúng? Nếu ván bài chính trị này tính sai, VN được gì ngoài sự ngã xuống của hàng vạn thanh niên để đổi lại một gia tài oán hận? Khi Hun Sen không còn nắm quyền, VN sẽ xử lý ra sao với một Campuchia thân TQ, xử lý ra sao với tình trạng cả phía Nam lẫn phía Bắc bị bủa vây bởi những láng giềng không hữu hảo?

Ai thực sự biết ơn VN, người Cam hay Hoàng gia Cam? Có phải họ tuy biết ơn VN đã cứu thoát khỏi họa diệt chủng nhưng không thể nguôi đi nỗi thù mất nước từ xa xưa? Có phải họ chịu ơn cứu mạng của VN nhưng lại nhanh chóng bị mất lòng tin khi thấy quân VN sau khi đánh đổ chế độ diệt chủng thì không rút đi mà tiếp tục ở lại, thành lập rồi giật dây chính quyền bù nhìn Heng Samrin?

Có phải những hận thù này đang được cố tình đổ dầu vào lửa, được các đảng phái chính trị đối lập với độc tài Hun Sen ở Cam lợi dụng cho những ván bài chính trị mới, kích động một bộ phận dân chúng tuy nhỏ nhưng hung hăng để tạo phản ứng dây chuyền, và kẻ chịu nạn là những người Cam gốc Việt vô tội?

Hận thù với láng giềng thì hầu như nước nào cũng có. Và tôi tin rằng hận thù nào cũng có thể hóa giải. Trân trọng quá khứ và cởi mở với nhau là điều kiện tiên quyết để tạo nên các mối giao hảo vững bền. Hơn bao giờ hết, quyền lợi của các quốc gia đang được thắt chặt vào nhau.

Hãy nhìn châu Âu mà xem, giết nhau hàng bao nhiêu thế kỷ mà giờ đường biên thênh thang không có cả lính gác. Tạo sao? Bởi châu Âu cũng như rất nhiều nước ngoài châu Âu không ngần ngại phán xét lịch sử của chính mình, phân tích chi ly cái gì đúng cài gì sai, chửi rủa những lỗi lầm của chính mình, liên tục nhắc thế hệ đi sau về những sai phạm của thế hệ đi trước. Có bạn tên @Phạm Trang comment ở dưới nói rằng có đất nước nào bôi xấu lịch sử của mình đâu. SAI ! Lịch sử VN thì đương nhiên là ta làm cái gì cũng đúng, chưa bao giờ chính quyền trên đất nước này làm cái gì sai cả !!!.

Nhưng nếu bạn bước ra thế giới sẽ thấy dù không bao giờ đạt 100% khách quan, nhưng nhiều nước văn minh luôn cố gắng hạn chế dùng lịch sử như một thứ đồ trang điểm cho đẹp hay công cụ tuyên truyền mà cố gắng nhìn nhận nó như một KHOA HỌC, tức là có đúng có sai, có phản biện và tranh luận. Cứ cách vài chục bước chân ở trung tâm Berlin bạn sẽ thấy những tấm biển lớn, chữ hai thứ tiếng Anh-Đức thông báo về những sự kiện lịch sử đen tối của Quốc Xã đã từng diễn ra ở địa điểm hay tòa nhà này trong quá khứ. Trẻ con Hà Lan được học về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc dã man ở Nam Phi mà chính cha ông họ dựng lên, thậm chí bài quốc ca của họ vẫn còn nguyên trạng lời hát: “chúng ta nguyện trung thành với hoàng đế Tây Ban Nha”. Người Pháp và Anh thẳng thắn nhìn nhận hậu quả của những năm dài đô hộ thế giới, lập ra hàng trăm quỹ cứu trợ để hòng chuộc lại một phần lỗi lầm. Người Mỹ không che giấu sự thật về những vụ tàn sát người da đỏ. Thậm chí cả những nước có chủ nghĩa dân tộc cao như Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã bắt đầu công nhận cuộc diệt chủng người Armenia. Thế giới vừa kỷ niệm 100 năm chiến tranh thế giới thứ nhất, hàng triệu bông hoa được cài lên áo cho TẤT CẢ những chiến sĩ ngã xuống ở cả hai phe, bất phân ta-địch.

Người chết luôn luôn được tôn trọng, nhưng những nguyên nhân và hệ quả của chiến tranh, những quyết định của TỔ CHỨC LÃNH ĐẠO thì phải được nhìn nhận rõ ràng đúng sai. Phán xét lịch sử KHÔNG ĐỒNG NGHĨA với phán xét hành động hy sinh xương máu của các chiến sĩ mà là phán xét quyết định của người làm lãnh đạo, gửi quân ra chiến trường. Nói một cách khác, phải phán xét đúng sai để có thể tiết kiệm và tránh được đổ máu cho những người lính của hiện tại và tương lai. Như vậy, cái chết của họ mới không thành những con số vô nghĩa. Tại sao những quốc gia này làm thế? Bởi lịch sử sẽ trở nên vô dụng nếu ai cũng chăm chăm cho rằng mình làm gì cũng đúng, nếu sai thì thì có những lý do này nọ để thông cảm được. Chỉ có tôn trọng lịch sử, nhìn nhận và phán xét đúng sai rõ ràng thì những mối thâm thù mới có thể hóa giải, mới thấy cái chết là không cần thiết, những người từng giết nhau mới có thể nắm tay nhau trở thành bạn làm ăn.

Mối quan hệ Việt Cam may mắn chưa đến mức thảm sát nghiêm trọng như những ví dụ tôi nêu ra ở trên, nhưng cũng lại phức tạp hơn vì trắng đen không rõ ràng, người Cam vừa mang ơn vừa mang oán. Các làn sóng nghi ngờ, thậm chí thù hằn đối với người Việt là có thật và đang bị kích động bằng các chiêu bài chính trị. Nhưng tôi tin rằng hai nước Việt Cam hoàn toàn có thể để quá khứ sang một bên, hóa giải ân oán như chúng ta đã từng làm với Nhật, Pháp, Mỹ. Nếu chúng ta có thể tha thứ được cho kẻ thù, tại sao không thể lắng nghe tâm tư của kẻ mình từng cứu nạn? Và để hóa giải thì buộc phải có sự chân thành, phải có thành ý thực sự muốn tìm hiểu tại sao người hàng xóm lại ghét và nghi ngờ tấm chân tình của mình đến thế dù được mình cứu sống. Trước khi mắng họ vô ơn, hãy kiềm chế cơn giận và lắng nghe họ giãi bày.

Đường biên giới Việt Cam có thể sẽ không bao giờ thay đổi nữa. Cũng như những đường biên giới khác trên thế giới này sẽ không bao giờ thay đổi nữa. Tôi cũng như hàng triệu người Việt khác sẽ luôn ôm vào lòng hình ảnh đất nước hình chữ S. Nhưng tôi cũng sẽ phải hiểu rằng, cùng với hình ảnh lá cờ Tổ Quốc bị đốt cháy, lịch sử không bao giờ khép lại hay sang trang. Người ta chỉ cố tình hay vô ý quên nó đi trong chốc lát mà thôi.


(*) Nhiều người Cam gọi Việt là “youn”, nhưng một số không hiểu nghĩa. Một cách lý giải khác cho từ này là do chiết xuất từ chữ Yueh theo cách người Tàu gọi người Việt.

(**) Con số người Cam chết được trích từ tư liệu của cuốn “Cambodia’s Curse: The Modern History of a Troubled Land” (Lời nguyền của Campuchia: Lịch sử hiện đại của một mảnh đất đầy trắc trở), tác giả Joel Brinkley

(***) Sách tham khảo thì rất rất nhiều. Và đương nhiên khôgn có cuốn nào khách quan tuyệt đối cả. Vấn đề là khách quan đến đâu. Muốn tiến gần đến sự thật do vậy không có cách nào khác là phải tìm đọc từ nhiều nguồn.

Đây là một facebook status nên đương nhiên là không có chức năng đưa đủ thông tin. Đề nghị các bạn đọc và tìm hiểu thêm, rồi TỰ RÚT RA KẾT LUẬN CHO CHÍNH MÌNH.

Tôi xin giới thiệu ở đây một vài cuốn cá nhân tôi cho là có khá nhiều thông tin cho những ai muốn tìm một ý kiến khác, hoặc một ý kiến ngoài cuộc về lịch sử của mối quan hệ Việt Cam. Không nhất thiết phải đồng ý với các tác giả, nhưng đọc để tham khảo, so sánh, và biết các nhà sử học quốc tế nhìn nhận chúng ta như thế nào.

  1. “Why Vietnam Invaded Cambodia: Political Culture and the Causes of War” (Tại sao Việt Nam xâm lược Campuchia – Văn hóa chính trị và nguyên nhân của cuộc chiến), tác giả Stephen J. Morris
  2. Genocide by Proxy: Cambodian Pawn on a Superpower Chessboard (Con tốt đen Campuchia trong ván cờ của các nước lớn), của tác giả Micheal Haas.
  3. A History of Cambodia (Lịch sử Campuchia), của David Chandler
  4. Cambodia’s Curse: The Modern History of a Troubled Land (Lời nguyền của Campuchia: Lịch sử hiện đại của một mảnh đất nhiều thăng trầm), của Joel Brinkley

P/S cho những bạn hay đọc kiểu “đọc một suy luận mười”, bới bèo ra bọ, (không tìm ra bọ thì vẽ ra bọ), nhé! Chán các bạn lắm rồi ạ! Đề nghị các bạn block tôi đi nhé!

  1. Bạn gọi quá trình VN mở rộng xuống phía Nam là gì tùy bạn. Ở post này, tôi chỉ đưa ra hai cách nhìn, một là của lịch sử VN (mở nước). Hai là của người Cam (mất nước). Bản thân tôi chấp nhận cả hai. Quan điểm của tôi là luôn nhìn lịch sử thông qua những mất mát cũng như vinh quang của cả hai phe.

  2. Người Cam đương nhiên biết ơn người Việt, Hun Sen lại càng biết ơn tợn. Thế nên ông ấy mới lên tiếng đính chính là “người Việt không xâm lược Campuchia mà là revive (cứu sống) Campuchia. Không có người Việt, dân Cam chắc không chỉ dừng lại ở con số hơn 2 triệu người chết dưới bàn tay diệt chủng man rợ của Khmer Đỏ.

  3. Tuy nhiên, cùng với sự biết ơn đó là sự oán ghét CHƯA thể nguôi ngoai. Tâm lý người Cam vì vậy rất nhạy cảm, vì họ vừa biết ơn lại mang oán. Thế nên mới có chuyện trong khi chúng ta tưởng họ mang ơn mình thì họ đốt cờ VN. Mối thù này tuy không bùng phát ra ngoài, không phải ai ai cũng mang trong đầu, chỉ một số nhỏ dân chúng bị kích động, nhưng nó là mối thù có thật, và nó được các đảng đối lập lợi dụng triệt để để thu hút phiếu bầu. Post này để cho bạn biết cái gì đang diễn ra, và cá nhân tôi đang cố gắng tìm hiểu tại sao nó lại diễn ra như thế. Đừng có đặt chữ vào mồm tôi, cho là tôi ủng hộ các đường biên quốc gia trên thế giới có thể vẽ lại. Vẽ lại thế quái nào được? Ai mà cũng đòi trả lại đất đai từ xa xưa thì thành Israel-Palestine hết à? Mệt lắm các nhà suy diễn ạ! Đừng có hồ đồ kết luận tôi phản động, vô ơn, về phe nọ phe kia, không tôn trọng xương máu người ngã xuống. Bạn nào mắc lỗi này tôi xin block thẳng luôn. Đơn giản vì bạn không những mắc lỗi suy diễn mà còn vi phạm một trong những nguyên tắc tối thiểu của tranh luận văn minh: chỉ thảo luận về ý kiến chứ không xúc phạm cá nhân người nêu ý kiến.

  4. Vì vậy post này là hành trình cá nhân tôi đi tìm câu hỏi tại sao người Cam mang ơn mà trả oán. Tôi CHƯA bàn đến cuộc chiến ở Cam đúng sai ra sao, liệu việc VN đem quân vào Campuchia và ở lại đó có chính nghĩa hay không, mục đích của post (số 3) là để hiểu TẠI SAO một số người Cam hành động như vậy. Tạm thời có 3 lý do: (1) Di chứng lịch sử từ xưa để lại; (2) Các vấn đề xung quanh Khmer Đỏ và sự can thiệp quân sự cũng như chính trị của VN tại Campuchia; (3) Sự khác biệt về văn hóa giữa hai dân tộc cũng như cung cách làm ăn của một bộ phận người Việt hiện nay tại Cam.

Bạn nào muốn bàn đến cuộc chiến ở Cam đúng sai ra sao, có chính đáng hay không, xin để dành một dịp khác để tôi kịp trích dẫn ý kiến của các nhà nghiên cứu giỏi đã rồi chúng ta bàn luận cũng chưa muôn. Yêu cầu duy nhất là các ý kiến này phải dựa trên chứng cứ khoa học rõ ràng trên các tài liệu của bên thứ ba (không Cam không Việt) để chúng ta có thêm cơ sở tiến gần đến sự thật, bởi đương nhiên, chưa chắc những gì tôi đọc hiểu đã là toàn vẹn. Ở đây, tôi chỉ muốn trả lời câu hỏi TẠI SAO. Và vì muốn biết TAI SAO, chúng ta buộc phải mở lòng đặt mình vào vị thế của người Cam để có thể hiểu được nỗi lòng của họ.

Một số bạn ngang nhiên nói rằng bản chất của người Cam là như thế: họ là lũ VÔ ƠN. Nói thế thì có khác gì những người Trung Quốc mắng VN vô ơn, được TQ giúp cho bao nhiêu đạn dược để đánh nhau mà lại phản bội lại công hàm Phạm Văn Đồng? Có bao nhiêu người TQ có thể ngồi xuống bình tĩnh lắng nghe người Việt giải thích ngọn ngành? Nếu mình không thể làm được thế với Campuchia thì đừng đòi hỏi TQ phải hiểu tại sao VN nổi giận.

  1. Một số bạn bảo sao lại nói ra chuyện này, không có lợi. Tôi cho rằng nhiều người Việt không hể biết một bộ phận dân Cam lại có thể ghét mình đến mức này. Phải lựa chọn giữa hai trường hợp: (1) Sống cạnh một người hàng xóm ghét mình nhưng mình BIẾT TẠI SAO nó ghét mình để mà còn tìm cách hóa giải ân oán, và (2) Sống cạnh một người hàng xóm ghét mình nhưng minh KHÔNG HỀ BIẾT, lại cứ tưởng nó MANG ƠN mình nhiều lắm. Bạn chọn cách nào?

  2. Đừng có đòi tôi phải đưa ra giải pháp. Tôi là dân đen giống như bạn, thấy chuyện thì tri hô lên, cùng lắm là tốn công mày mò thêm để hiểu “tại sao”. Chúng ta trả thuế cho nhà nước làm cái việc “tìm ra giải pháp”. Tôi không phải là nhà nước.

  3. Tuy nhiên, nếu bạn hỏi tôi sẽ làm gì với tư cách cá nhân, thì tôi xin thưa là sẽ gửi tất cả những người bạn Campuchia mình quen biết một lá thư, nói rằng mày biết không, có một ông nhà thơ ở nước tao tên Nguyen Duy nói rằng: “bên nào thắng thì nhân dân cũng bại”. Tao hiểu tại sao mày cáu, tao hiểu tại sao mày ghét người Việt. Tao hứa sẽ tìm hiểu thêm về lịch sử. Chuyện của chính quyền với nhau, xin mày đừng lẫn lộn với chuyện của dân đen.

Các bài báo về chuyện người Cam bài Việt đây nhé! Tôi chọn 4 nhóm llink, để tạo sự khách quan, một nhóm của Cam, nhóm của Việt (hai thứ tiếng của báo Thanh Niên và Dân Trí về vụ bài Việt ở Cam), hai link còn lại của phương Tây, và Al-jazeera được tôi coi như hãng thông tấn có vai trò làm cân bằng cán cân với phương Tây.

Báo chính thống của Campuchia
http://www.cambodiadaily.com/news/khmer-krom-protesters-burn-vietnamese-flag-66356/
http://www.cambodiadaily.com/news/nationalists-renege-on-threat-to-burn-embassy-69225/

Báo nhà mình
http://dantri.com.vn/kieu-bao/mot-nguoi-viet-tai-campuchia-bi-danh-hoi-dong-den-chet-839801.htm
http://www.thanhniennews.com/politics/vietnam-pm-asks-cambodia-to-discourage-antivietnamese-nationalism-30108.html

Hãng thông tấn Al-jazeera
http://www.aljazeera.com/indepth/features/2014/01/cambodia-protests-unmask-anti-vietnam-views-2014122101345786547.html

Hãng thông tấn Reuter
http://www.reuters.com/article/2014/04/29/us-cambodia-racism-idUSBREA3R1CN20140429


Nếu bạn có đủ thời gian, đây là phần dịch của bạn @Khanh Nguyen với bài viết “17/20 người bạn tôi ghét Việt Nam”

‘Trong số 20 người bạn của tôi, đã có đến 17 người ghét người Việt Nam’

Nguồn: Emily Wight, ‘Out of 20 of my friends, 17 hate the Vietnamese’, báo Phnom Penh Post, bản online, ngày 6 tháng 9 năm 2014, http://www.phnompenhpost.com/post-weekend/out-20-my-friends-17-hate-vietnamese

‘Trong số 20 người bạn của tôi, đã có đến 17 người ghét người Việt’ Nam’, đó là cảm nghĩ của bạn Tep Afril, một sinh viên 22 tuổi ngành công nghệ thông tin tại trường đại học Campuchia.

Một người bạn khác cùng nhóm với Tep cũng thừa nhận rằng đã từng nghĩ rằng người Việt Nam ở Campuchia che giấu một ‘mưu đồ bí ẩn’ nào đó.

Những bạn khác cũng đề cập đến một tâm lý chung của nhiều người Campuchia cho rằng những người Việt đang làm việc ở Campuchia với mục đích ‘xâm lược’, giống như cách giới quân sự của họ đã làm vào năm 1979, đẩy lùi quân Khmer Đỏ rồi đóng quân hơn 10 năm.

Afril miêu tả quan điểm của người Campuchia – một quan điểm mà chính Afril cũng không đồng tình – với một thái độ thẳng thắn khác thường đối với một vấn đề vốn rất nhạy cảm. ‘Ở Campuchia, chúng tôi có một ấn tượng không tốt về người Việt Nam.’

Thái độ khoan dung của Afril chính là mục tiêu phấn đấu của chương trình trao đổi văn hoá Sarus, chương trình tổ chức dự án xây dựng kết nối cộng đồng giữa người bản địa và người gốc Việt ở Campuchia.

Vào tháng 7, dự án này đã chào đón 10 sinh viên Việt Nam đến Campuchia đánh dấu 4 năm nỗ lực của chương trình vốn được tài trợ bởi tổ chức xây dựng hoà bình quốc tế Sarus.

Cuộc đối thoại diễn ra trong bối cảnh tâm lý bài trừ Việt Nam lan rộng và có khuynh hướng bạo lực ngày càng cao trong cộng đồng người Campuchia bản xứ.
Vào tháng 2 năm nay, Trần Văn Chiến (hoặc Chiên), một người Campuchia gốc Việt, đã bị đánh chết bởi đám đông ở thủ đô Phnom Penh trong một khung cảnh mà một nhân chứng miêu tả là ‘dân yuon… đánh dân Khmer’ (yuon: là từ lóng dân địa phương dùng để chỉ người Việt)

Vào tháng trước, chính phủ Campuchia vừa triển khai chương trình điều tra dân số, một chương trình mà nhiều người cho rằng nhắm đến người gốc Việt ở Campuchia.Có ít nhất hơn mười trường hợp bị trục xuất khỏi Campuchia.
Trở lại với chương trình trao đổi văn hoá của Sarus, vốn luôn nhấn mạnh việc không có bất kỳ mưu lợi chính trị nào đằng sau hoạt động của tổ chức, nhân viên điều phối Heng Sokchannaroath (gọi tắt là Naroath) cho biết chương trình năm nay đã được thực hiện một cách khác đi.

Trong 3 năm vừa qua, chính các nhân viên của Sarus phụ trách tổ chức các sự kiện; tuy nhiên năm nay, họ đã mời thêm các thành viên tham dự và các thực tập sinh tham gia vào việc quyết định chương trình hoạt động. Tiếp sau 2 tuần của các bạn sinh viên Việt Nam ở Campuchia như thường niên, lần đầu tiên sẽ có 10 bạn sinh viên Khmer đến Việt Nam để tham gia vào các dự án phục vụ cộng đồng như hoạt động trí phòng học ở các làng nghèo khó ở Việt Nam.

Đây là nỗ lực của chương trình nhằm cải thiện những định kiến tiêu cực bằng cách xây dựng thái độ tích cực cho thế hệ trẻ ở cả hai nước, như lời giải thích của Naroath – điều phối viên dự án. Cô cho biết thêm: ‘Các bạn sinh viên sẽ là thế hệ lãnh đạo tương lai của 2 quốc gia, vì thế họ có tiếng nói vô cùng quan trọng. Họ có thể nói chuyện với bạn bè và chia sẻ những trải nghiệm của ho về chương trình.’

Các bạn sinh viên Việt Nam trong chương trình này sẽ có hai tuần ở Campuchia, tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng ở một ngôi làng thuộc tỉnh Kandal vốn có nhiều người gốc Việt và cả dân nhập cư từ Việt Nam sang. Ở đây họ sẽ cùng làm việc với các bạn sinh viên ngừơi Khmer bản xứ.Đối với nhiều người gốc Việt ở Campuchia, cuộc sống là sự đấu tranh sinh tồn từng ngày trong một xã hội vốn không chấp nhận họ. Không quốc tịch đồng nghĩa với việc trẻ em không thể đến trường., còn cha mẹ của các bé thì không thể mua đất mua nhà. Nhiều gia đình sống trên những ngôi nhà nổi ven sông thiếu vệ sinh và ủ nhiều mầm bệnh đặc biệt khi mùa mưa ngập lụt.

‘Nhiều người ở đây không có giấy khai sinh ngay cả khi họ được sinh ra trên đất Campuchia; họ không đến trường; họ không được chính phủ chăm sóc, và thậm chí cộng đồng bản địa cũng chả đoái hoài quan tâm gì đến họ.’. Naroath cho biết và cô hy vọng rằng tổ chức Sarus sẽ có thể giới thiệu chương trình trao đổi tương tự đến người Miến Điện bản địa và người gốc Bangladesh ở Myanmar trong tương lai.’ (*)

(*) Tình huống xung đột tương tự ở Myanmar diễn ra giữa người Miến Điện bản địa và người gốc Bangladesh (còn gọi là nhóm người Rohingya)

Naroath giải thích rằng một phần của mối xung đột nảy sinh từ lich sử chiếm đóng giữa hai dân tộc. Sự hiện diện của quân đội Việt Nam từ năm 1979 đến 1989 vẫn còn hằn lên tâm trí của thế hệ trước. Cô nói thêm: ‘Họ nghĩ rằng người Việt đến đây để cướp công ăn việc làm của họ. Đó là vì yếu tố lịch sử – họ xem đó sự xâm lược đất nước Campuchia của người Việt’

Nhưng cội rễ của xung đột sắc tộc này có nguồn gốc sâu xa hơn thế, về tận thế kỷ 17, khi mà người Việt bắt đầu lấn sang lãnh thổ của người Khmer ở vùng đồng bằng sông Mekong. Vào thế kỷ 19, Việt Nam đã xâm lược Campuchia và thậm chí chiếm đóng cả Phnom Penh dưới triều vua Minh Mạng, vị vua đã cho rằng người Khmer là lạc hậu, điều mà sử gia Joel Brinkley đã ghi nhận lại trong quyển ‘Lời nguyền của Cambodia’ (Cambodia’s Curse).

Chỉ khi vua Norodom ký hiệp định với thực dân Pháp thì Campuchia mới được xem là không còn nằm trong sự kiểm soát của Viêt Nam – dù vẫn dưới quyền Bảo hộ của Pháp, nhiều lao động và nhân viêncôngvụ ở Campuchia lúc bấy giờ đều là người Việt, dẫn đến tâm trạng bất nhẫn trong nội bộ Campuchia.

Khi Việt Nam tiến quân vào Campuchia năm 1979, họ đã đẩy lùi được Khmer Đỏ,một chế độ hà khắc với những chính sách tàn ác đã giết hại gần 1.7 triệu người Campuchia. Nhưng quân Việt Nam đã không được chào đón như những người giải phóng được bao lâu.

Kok-Thay Eng, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Dữ Liệu Campuchia (the Documentation Center of Cambodia – DC-Cam) cho biết: ‘Trong suốt thời kỳ này, Việt Nam đã cố du nhập văn hoá Việt vào Campuchia và vấp phải sự phản đối từ người dân Campuchia.’. Ông cũng bổ sung quan điểm cho rằng việc mất đi lãnh thổ Kampuchea Krom hàng thập kỉ trước đã từ lâu gây nên không ít xung đột giữa 2 dân tộc.

Ngày nay, ông cho rằng, nhiều người Campuchia cảm thấy công việc của họ bị đe doạ bởi những người dân nhập cư Việt Nam. Nhiều người khác thì cho rằng dân nhập cư Việt chịu trách nhiệm về nạn khai thác gỗ lậu và đánh bắt cá tràn lan. ‘Người Campuchia còn cho rằng các công ty Việt Nam tiếp tay với những thương lái và chính trị gia địa phương để khai thác mỏ, đánh bắt cá tràn lan và cưỡm đoạt tiền lợi nhuận từ du lịch của Campuchia’ (**).

(**) lợi nhuận từ du lịch của Campuchia chủ yếu đến từ đền Angkor Wat vốn được quản lý bởi một công ty mà chủ đầu tư được cho là người Việt Nam.

Trọng tâm nỗ lực của tổ chức Sarus để đối trọng lại những thái độ bài trừ Việt Nam trên là sản phẩm từ một nghiên cứu về người Việt Nam ở Campuchia.Những kết luận trên đã được trình bày trong nhiều bài nghiên cứu trong ba năm trở lại đây. Kết quả nghiên cứu năm nay sẽ được trình bày trong một bộ phim tài liệu ngắn trình chiếu trong cuối tháng này. Hầu hết tư liệu hình ảnh trong bộ phim được quay tại một ngôi làng ở tỉnh Kandal, tập trung vào đời sống thường nhật của những người Việt nhập cư và người Campuchia gốc Việt tại đây.

Đạo diễn của bộ phim, Porchhay Seng, 23 tuổi, một sinh viên ngành Nghiên cứu quốc tế tại Học viện Ngoại ngữ, cho biết anh tham gia vào chương trình trao đổi này vì niềm đam mê của anh với phim ngắn và cơ hội làm việc vì cộng đồng.Anh thừa nhận, trước khi tham gia chương trình này, bản thân anh cũng có suy nghĩ rằng những người Việt sang Campuchia với một động cơ m


Đăng trên Facebook của chị Nguyễn Phương Mai, chôm ngày 4/9/2015. Tít tự đặt. Link

 


Leave a comment

Nữ y tá về hưu chọn ‘cái chết êm ái’ vì sợ tuổi già

Hàng chục năm hành nghề giúp nữ y tá người Anh trải nghiệm về cuộc đời và thấu hiểu nguyện vọng bệnh nhân già lão. Ở tuổi 75, không bệnh tật nghiêm trọng, bà vẫn quyết định sang Thụy Sỹ để được hỗ trợ “chết êm ái”.

Bà Gill Pharaoh là một nữ y tá về hưu. Ngày 21/7 vừa qua, bà tới một trung tâm dịch vụ trợ tử tại Thụy Sỹ và kết thúc sự sống. Người bạn đời chung sống suốt 25 năm vẫn ở bên cạnh lúc đôi mắt bà khép lại vĩnh biệt cuộc đời.

Người chồng John Southall cho biết, vợ mình đã nhiều lần đề cập với gia đình và bạn bè về một ngày nào đó sẽ lựa chọn cách chết êm ái. Quyết tâm này nhen nhóm trong lòng bà vì không muốn thấy mình già yếu đi từng ngày và trở thành gánh nặng cho gia đình, con cái.

Nữ y tá về hưu Gill Pharaoh. Ảnh: CBS News

Nữ y tá về hưu Gill Pharaoh. Ảnh: CBS News

Nữ y tá về hưu, người từng viết hai cuốn sách về cách chăm sóc những bệnh nhân cao tuổi, cũng chia sẻ tâm nguyện trên blog cá nhân có tựa “My Last Words” (tạm dịch là “Những lời cuối”). Bà viết:

“Trong suốt thời gian làm nghề, ban đầu là một y tá đa khoa và sau đó làm tại khu vực chăm sóc giảm thiểu đau đớn, tôi thường xuyên gặp những người cảm thấy cuộc đời mình đã trọn vẹn. Họ không còn muốn tiếp tục chiến đấu cho sự sống. Tôi cũng chứng kiến nhiều người giấu kín tâm tư của mình, vì không muốn bị coi là thiếu ý chí.

Có những bệnh nhân đối diện bệnh hiểm nghèo, tính mạng bị đe dọa. Họ liên tục nghe những lời khuyên hãy kiên cường chiến đấu trong khi thực sự nhiều người trong số họ đã sẵn sàng từ bỏ. Rồi sau đó, khi người thân của bệnh nhân bảo rằng họ đã chiến đấu dũng cảm, bản năng của tôi mách bảo rằng bệnh nhân chỉ chiến đấu để được ra đi một cách thanh thản mà thôi”.

Trong bức tâm thư, nữ y tá cho biết mình vẫn còn khá hoạt bát và khỏe mạnh dù đã bước sang tuổi thất tuần. Song, căn bệnh zona, một chứng tổn thương da, khiến nhiều việc thay đổi. Bà không thể thực hiện những công việc yêu thích như làm vườn hay nấu nướng giống trước kia. Chứng ù tai cũng khiến bà cảm thấy phát điên. Tuy nhiên, nữ y tá cho rằng những chứng bệnh ấy không có gì đáng kể và khẳng định mình không hề trầm cảm vì bệnh tật.

“Tôi cảm thấy cuộc đời mình đã trọn vẹn và tôi sẵn sàng được chết. Gia đình tôi vẫn ổn và hạnh phúc, mọi người có cuộc sống đủ đầy và bận rộn. Bây giờ tôi không thể đi những chặng đường dài, những giờ phút vui vẻ khám phá các con đường của thành phố London, do vậy, chỉ còn là ký ức.

Đơn giản là tôi không muốn tuân theo quy luật già lão của tạo hóa cho tới những ngày cuối cùng, khi chắc chắn tôi sẽ cần rất nhiều giúp đỡ. Tôi cần phải hành động sớm vì không ai có thể thay tôi làm điều đó. Suy nghĩ rằng mình sẽ phải cậy nhờ những đứa con khiến tôi hoảng sợ.

Tôi muốn mọi người nhớ đến mình như bây giờ, dù đây không phải là thời kỳ đỉnh cao, nhưng ít ra tôi vẫn còn là chính mình. Tôi mong gia đình, bạn bè và cả những người xa lạ biết được dự định của tôi sẽ ủng hộ quyết định này mà không phán xét gì. Tôi hiểu sẽ có những phản ứng khác nhau về lựa chọn mình đưa ra, nhưng tôi tin rằng những ai thương mến mình sẽ thực sự vui mừng vì biết tôi đã tránh được tuổi già mà từ xưa đến nay tôi luôn e ngại và lo sợ”, bà viết.

Những lời cuối trong bức tâm thư, bà Pharaoh cũng kêu gọi chính phủ Anh nhanh chóng hợp pháp hóa “cái chết nhân đạo” cho những ai mong muốn. Người phụ nữ tìm tới cái chết êm ái nhấn mạnh, bản thân không khuyến khích hành động này vì điều sai trái.

Quyết định dứt khoát và xúc động của bà đã gây nhiều phản ứng trái chiều trong dư luận nước Anh, vốn đang có nhiều tranh luận xung quanh dự thảo luật về “cái chết êm ái”. Những người ủng hộ cho rằng quyết định đặt dấu chấm hết cho cuộc đời là quyền tự do của con người cần được tôn trọng. Trong khi đó, bên phản đối lo ngại rằng cho phép trợ tử sẽ dẫn tới những hành động bắt nguồn từ lý do sai trái.

Phát ngôn viên của Care Not Killing, một tổ chức phản đối trợ giúp thực hiện cái chết không đau đớn cho người mắc bệnh nan y phát biểu trên Sunday Times: “Đây là một trường hợp đáng lo ngại. Nó cũng gửi tới thông điệp đau lòng về vấn nạn chăm sóc người cao tuổi tại Anh”.

“Nhiều người cho rằng Pharaoh sai lầm khi muốn trốn tránh tuổi già, nhưng bà ấy đã chứng kiến quá nhiều đau đớn với vai trò một y tá. Bà ấy đã quyết định một cách lý trí khi muốn có cái chết không đau đớn và được bác sĩ trợ giúp”, bác sĩ Micheal Irwin, người giúp bà Pharaoh thực hiện dự định của mình chia sẻ.

Thụy Sỹ là quốc gia coi quyền được chết là một trong những quyền nhân đạo. Trợ tử là hành động được luật pháp nước này công nhận. Điều này đã tạo ra “ngành du lịch trợ tử” khiến chính phủ Thụy Sỹ phải tìm nhiều biện pháp đối phó, khi hàng trăm người ngoại quốc mỗi năm tìm đến đây để được trợ giúp kết thúc cuộc đời một cách không đau đớn.

Khánh Hà (Theo CBS News)

http://suckhoe.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/nu-y-ta-ve-huu-chon-cai-chet-em-ai-vi-so-tuoi-gia-3260701.html


Leave a comment

Chìa khóa để học cách phát âm

Truyền thuyết kể rằng, bạn không thể có được giọng chuẩn nếu bạn bắt đầu học sau 7 tuổi, hoặc 12 tuổi, hoặc một độ tuổi nhất định nào đó. Nhưng điều này rõ ràng là không đúng. Các ca sĩ và diễn viên học một giọng mới bất kể độ tuổi, và tính theo trung bình, họ không thông minh hơn những người khác (và khá chắc chắn là họ không bắt đầu học trước 7 tuổi).

Vậy rốt cuộc là sao? Tại sao ai cũng nói là bạn không thể học được cách phát âm tốt khi trưởng thành? Và nếu điều này không đúng, vậy thì cái gì đúng?

Trong bài này, chúng ta sẽ đi vào một nghiên cứu về nhận thức giọng nói và phát âm, và chúng ta sẽ bàn về việc học phát âm một cách hiệu quả khi là người trưởng thành. Nhưng trước khi đi vào vấn đề đó, hãy cho tôi được phép dài dòng một tí.

Sự quan trọng của phát âm

Đây là một chủ đề lớn, và với tư cách là một ca sỹ, đây là một chủ đề vô cùng gần gũi với tôi. Đối với tôi, giọng là một thứ đặc biệt quan trọng.

https://i2.wp.com/fluent-forever.com/wp-content/uploads/2013/05/camera-150x1203.jpg

Đây là một cái fényképezőgép

Theo cá nhân tôi, nếu bạn không học cách nghe được âm thanh của một ngôn ngữ mới, bạn sẽ tốn nhiều thời gian để vật vã nhớ nó. Chúng ta dựa vào âm thanh để hình thành trí nhớ về từ, và nếu bạn thậm chí còn không phân biệt nổi các âm thanh mà bạn nghe, bạn đã gặp bất lợi ngay từ đầu. (Thử nhớ hai từ Hungary này xem: máy ảnh, fényképezőgép  ga xe lửa, vásutállomás . Hai từ này nghe thật kinh dị cho đến khi bạn cảm được tiếng Hung.)

Nhưng ngoài chuyện trí nhớ ra, một giọng phát âm tốt còn làm tăng sự kết nối giữa bạn và người khác. Nó cho những người từ một nền văn hóa khác thấy là bạn không chỉ dành thời gian và công sức để học từ vựng và ngữ pháp của họ, mà còn dành thời gian để học cách họ di chuyển miệng, môi và lưỡi. Bạn biến đổi cơ thể bạn vì họ – bạn cho họ thấy rằng bạn quan tâm tới họ – và chính vì vậy họ sẽ mở lòng vì bạn.

Tôi đã thấy chuyện này nhiều lần khi tôi đi hát hoặc xem biểu diễn tại Châu Âu. Cứ như là một quy luật, bình thường thì khán giả cũng dễ thương, nhưng hễ mà bạn hát bằng tiếng mẹ đẻ của họ, họ lại chuẩn bị lên tinh thần. Họ sẵn sàng cười khích lệ và nói “Tiếng hát nghe thật dễ thương!” hoặc “Nhạc nghe rất hay!”. Nhưng trong thâm tâm, họ đang chuẩn bị tinh thần để bạn băm vằm tiếng nói và văn hóa của mình ngay trước mũi. À, đừng lấy đó làm áp lực nhé.

Ngay lúc đó, nếu bạn làm họ ngạc nhiên bằng một giọng hát chuẩn, họ sẽ mở lòng ra. Đó không còn là nụ cười lịch sự nữa, mà là một nụ cười thật. Bạn cho họ thấy là bạn quan tâm đến họ không chỉ bằng tinh thần, mà còn bằng thể xác, và sự quan tâm này thật khó mà cưỡng lại được.

Nhưng mà thôi, lãng mạn vậy đủ rồi. Giờ làm sao để bạn có thể thật sự làm một cái gì đó để phát âm đây?

Một nghiên cứu về luyện tai và phát âm

Khả năng phát âm chuẩn là một sự tổng hợp của hai kỹ năng chính: luyện tai và luyện miệng. Bạn học cách nghe một âm thanh mới, và bạn học cách tạo lại nó trên miệng. Trong hai kỹ năng, cái đầu tiên là cái khó làm nhất; nếu bạn nghe được một âm thanh, thì rồi bạn cũng sẽ học được cách tạo ra nó một cách chính xác. Nhưng trước khi đạt được điều đó, bạn sẽ phải vất vả (để nghe được). Cho nên bây giờ, chúng ta sẽ tập trung vào luyện nghe.

Khi đang tìm tài liệu cho quyển sách của tôi, tôi bắt gặp một loạt các nghiên cứu tuyệt vời thực hiện bởi James McClelland, Lori Holt, Julie Fiez và Bruce McClandiss, khi họ cố dạy người Nhật trường thành nghe ra được sự khác nhau giữa “Rock” và “Lock”. Sau khi đọc mấy bài báo của họ, tôi gọi điện cho Ts. McClelland và Ts. Holt và phỏng vấn họ về nghiên cứu đó.

Đầu tiên họ phát hiện ra là luyện nghe không đơn giản, đặc biệt khi ngoại ngữ đó chứa hai âm cực kỳ giống như một âm trong tiếng mẹ đẻ của bạn. Trong trường hợp này là tiếng Nhật, âm “R” [ɺ] của họ nằm ngay chính giữa âm R [ɹ] và L [ɫ] trong tiếng Anh Mỹ. Khi bạn kiểm tra người Nhật trưởng thành về sự khác nhau giữa Rock và Lock (bằng cách cho họ nghe thu âm của một trong hai từ này và hỏi họ đây là từ nào), kết quả không khác gì đánh hên xui (50%). Tới đây thì không được khả quan cho lắm.

Các nhà nghiên cứu mới thử hai phương pháp luyện tập. Đầu tiên, họ cứ cho người Nhật trưởng thành nghe RockLock trong một thời gian, và xem xem liệu họ có khá hơn sau khi luyện tập không.

Không.

Tin này rất xấu. Nó cho thấy là tập luyện chẳng có tác dụng gì. Bạn cứ việc nghe RockLock cả ngày (hoặc với người Anh sẽ là 불/뿔/풀 [bul/pul/ppul] trong tiếng Hàn) và bạn sẽ chẳng tìm được sự khác nhau giữa chúng. Cái này chỉ tổ xác nhận cho cái truyền thuyết đã quá trễ để học cách phát âm. Khỉ thật.

Phương pháp thứ hai là khuếch đại một cách nhân tạo sự khác nhau giữa LR. Họ bắt đầu bằng những ví dụ cực kỳ rõ (RRrrrrrrrock), và nếu người nghe có tiến bộ, họ sẽ nâng dần độ khó cho tới khi người nghe đạt được sự phân biệt nhỏ giữa hai bản thu một cách tương đối. Phương pháp này khá hơn chút ít. Những người tham gia bắt đầu nghe được sự khác nhau giữa RockLock, nhưng lại không nghe được sự khác nhau của một cặp từ khác, như RoadLoad. Lại là một ngõ cụt nữa.

Sau đó họ thử cho thêm sự phản hồi, và tất cả mọi thứ liền thay đổi.

Thí nghiệm thêm phản hồi với cặp từ

Họ lặp lại y chang thí nghiệm, chỉ trừ lần này, khi mỗi người tham gia đưa ra câu trả lời (“Cái này là Rock“), màn hình máy tính sẽ nói cho họ biết đúng hay sai (“ding – Chính xác!”). Chỉ trong ba lần, mỗi lần 20 phút sử dụng loại luyện tập này, người tham gia đã thật sự nắm được khả năng nghe RL, trong mọi hoàn cảnh.

Không phải là ngẫu nhiên, khi đây chính là cách ca sỹ và diễn viên học. Tuy ta học có người hướng dẫn chứ không học qua máy, nhưng nguyên lý thì vẫn là một. Ta ngồi kế bên giáo viên luyện giọng và nhờ họ đọc một đoạn chữ. Sau đó ta sẽ đọc to đoạn chữ đó lên, và người giáo viên sẽ chỉ cho biết ta đọc đúng chỗ nào và sai chỗ nào. Họ cho chúng ta sự phản hồi. Họ sẽ nói những điều đại loại như “Không, cái anh nói là siehe, không phải sehe. Siehe…Sehe. Nghe ra không?” Và họ vẫn tiếp tục đưa phản hồi dù cho ta đã gần đạt (“Anh đang nói [một cái gì đó giống ‘sehe’], nhưng không phải sehe.”) Sau khi được hướng dẫn, chúng ta về nhà, nghe lại đoạn thu âm của những buổi tập này, và dùng những đoạn thu này để cho ta thêm nhiều phản hồi hơn.

Có một vài lưu ý cho vấn đề này. Người tham dự không hoàn toàn đạt tới trình độ hoàn toàn nghe được sự khác nhau giữa Rock Lock. Độ chính xác của họ cao nhất chỉ khoảng 80%, so với ~100% như người bản xứ. Tìm hiểu sâu thêm sẽ cho ta biết tại sao.

Chords

Phụ âm có rất nhiều cấu tử khác nhau (gọi là formant). Về cơ bản, một phụ âm rất giống một hợp âm trên piano. Trên một cây piano, nếu bạn chơi một nhóm các nốt nhất định cùng với nhau, bạn sẽ nghe được hợp âm. Đối với phụ âm, nếu bạn tạo một nhóm các nốt (phức tạp hơn), bạn sẽ nghe được một phụ âm. Đây không phải là lối nói ẩn dụ; nếu bạn có một cây piano được máy tính hóa, bạn thậm chí còn có thể dùng nó để phát ra tiếng người.

Người Anh bản ngữ có thể phân biệt được sự khác nhau giữa RL nhờ vào một điểm mấu có tên là formant thứ ba – về cơ bản nó là nốt thứ ba trong bất kỳ hợp âm R hoặc L. Người Nhật bản ngữ tốn nhiều thời gian cho mấu chốt này, và sau khi họ đã vượt qua bài kiểm tra, họ cũng không thật sự nghe được nó tốt hơn. Thay vào đó, họ học cách sử dụng một điểm mấu dễ hơn là formant thứ hai – nốt thứ hai trong hợp âm R/L. Cái này cũng có tác dụng, nhưng không đảm bảo 100%, vì thế giải thích được tại sao họ không thể có được kết quả như người bản ngữ.

Khi tôi nói chuyện với các nhà nghiên cứu qua điện thoại, họ hầu như đã dừng cuộc nghiên cứu này, kết luận là họ không biết làm cách nào để tăng độ chính xác lên trên 80%. Họ cũng khá thất vọng về kết quả này.

Tiềm năng cho tương lai

Nhưng hãy nhìn lại một chút về những gì chúng ta đạt được.

Trong vòng ba đợt, mỗi đợt 20 phút, họ đã hạ gục một trong những thách thức ngôn ngữ khó nhất – học cách nghe một âm mới – và tăng độ chính xác từ 50% (đoán mò) lên đến 80% (không tệ chút nào).

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có công cụ này ở mọi ngôn ngữ? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta có thể khởi đầu mọi thứ bằng việc nghe thử một vài bài kiểm tra có phản hồi và có một đôi tai có độ chính xác là 80%, trước cả khi chúng ta bắt đầu học phần còn lại của ngôn ngữ?

Chúng ta có những công cụ để luyện theo cách riêng của chúng ta. Tất cả những gì bạn cần là một hệ thống lặp lại sau từng khoảng (spaced repetition system) có hỗ trợ file âm thanh, như Anki, và một bộ tốt các thu âm mẫu của các từ dễ nhầm lẫn (một nhóm các từ như rock/lock, thigh/thy’s niece/knee trong tiếng Anh, hoặc sous/su, bon/ban’s huis/oui’s trong tiếng Pháp). Cái này tốn nhiều công để làm, nhưng nó chỉ cần được làm một lần, sau đó cả cộng đồng sẽ được hưởng lợi.

Nên là tôi sẽ làm điều đó.

Phát âm cực kỳ quan trọng, và giải pháp này thật giá trị để đợi cho một công ty lớn nào đó chịu làm. Trong vòng 9 tháng tới, tôi sẽ bắt đầu tạo các danh sách từ mẫu tốt, thu âm chúng và xây dựng các bộ từ (trong Anki). Tôi sẽ tuyển những người song ngữ, vì nhờ có họ, ta sẽ có những bản thu để học sự khác nhau không chỉ ở hai từ trong ngôn ngữ đích, mà còn ở hai từ giữa ngôn ngữ đích và ngôn nữa mẹ đẻ của bạn (sous vs Sue). Tôi có được ý tưởng này nhờ Ts. McClelland, và ông cho rằng nhờ cái này ta sẽ học còn tốt hơn nữa (eo, ta sẽ có thể có khả năng phá vỡ rào thế 80%). Và tôi sẽ làm một vài bản beta mở để chỉnh cho tới lúc học nó vừa có hiệu quả lại vừa vui.

Hi vọng là, với đúng công cụ, ta sẽ đưa truyền thuyết “đã quá trễ để học phát âm” vào dĩ vãng. Ta cũng sẽ có nhiều thảnh thơi hơn khi học ngôn ngữ, và ta cũng sẽ dễ dàng hơn để thuyết phục mọi người quên đi tiếng mẹ đẻ của chúng ta và nói bằng thứ tiếng của họ (tác giả có tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ).

Dịch từ Fluent Forever, The Key To Learning Pronunciation, 5/12/2013.


Leave a comment

Chiếc bè của chiến thuyền Méduse

“Chiếc bè đã đưa những kẻ sống sót tới giới hạn trải nghiệm của con người”

Nghiên cứu lịch sử

radeaumeduse

Phạm Việt Hưng

“Chiếc bè đã đưa những kẻ sống sót tới giới hạn trải nghiệm của con người”
—Jonathan Miles

Vụ đắm con tầu Méduse cách đây gần 2 thế kỷ là một sự kiện vô cùng thương tâm, bi thảm, khủng khiếp và rùng rợn, hoàn toàn do tội của con người gây ra. Tội lỗi ấy có thể đã được che đậy vĩnh viễn trong bóng tối nếu nó không bị phơi bầy ra giữa thanh thiên bạch nhật bởi tác phẩm hội hoạ “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse” (Le Radeau de la Méduse/The Raft of the Medusa) của Théodore Géricault – một bức tranh làm người xem kinh hãi, xôn xao bàn tán về sự thật đằng sau nó, những kẻ chịu trách nhiệm bị nguyền rủa, sự phẫn nộ bùng nổ thành một vụ “scandal” chấn động nước Pháp và thế giới…

View original post 5,684 more words


Leave a comment

Mục tiêu đào tạo tiến sĩ: Xưa và Nay

Tiến cử, gồm “tiến” và “cử” là hai mức tôn vinh khác nhau. Nước ta chưa có chữ, do vậy “người được cử” (tiếng Việt) nếu gọi theo chữ Hán (để có thể ghi vào văn bản, sổ sách) sẽ là Cử Nhân – đã đủ vinh dự. Cử nhân, nếu xuất sắc, còn được tiến dẫn lên tận vua, do vậy danh xưng phải khác. Thế là, “cử” được thay bằng “tiến” (để thêm trang trọng); và “nhân” được thay bằng “sĩ” (để tăng tôn vinh). Đó là xuất xứ của từ ngữ Tiến Sĩ và Cử Nhân, được dùng tới nay.

Nghiên cứu lịch sử

Một đám rước vinh quy bái tổ (Lều chõng ngày xưa)Một đám rước vinh quy bái tổ (Lều chõng ngày xưa)

Nguyễn Ngọc Lanh

Vài lời ngoài bài

Cảm hứng để viết bài này là một tin thời sự hôm nay (02-7-2015) trên báo Vietnamnet, nói rằng Cán bộ Hà Nội có hơn 4.000 tiến sĩ, thạc sĩ. Có thể hiểu: Trong số cán bộ của Hà Nội đang có 4.000 người vốn được đào tạo để làm nghề nghiên cứu khoa học, nay bỏ nghề, để làm nghề khác – chẳng liên quan gì tới mục tiêu đào tạo. Tiến sĩ được đào tạo để nghiên cứu khoa học, diễn viên được đào tạo để biểu diễn trên sân khấu. Thợ nề thì xây tường. Phi công thì lái máy bay… Câu hỏi: Nếu các đối tượng này khi ra trường lại làm “cán bộ” thì sẽ ra sao?

Để trả lời, xin so sánh…

View original post 3,762 more words


Leave a comment

​Hai người đàn ông và một đứa trẻ

Cuộc sống vốn trúc trắc khó lường nên những bi kịch như thế này vẫn thường xảy ra. Nhưng có lẽ những người trong cuộc, và ngay cả hệ thống tư pháp, nên có những lựa chọn thích đáng hơn về cách xử sự để giảm thiểu rắc rối, hướng đến một đoạn kết nhân văn và hợp lẽ hơn.

Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần

Vợ vừa mồ yên mả đẹp chưa được bao ngày, anh Đ.V.L. được người đàn ông tên là N.P.V. (49 tuổi, ngụ Q.2, TP.HCM) từng làm trong cửa hàng kinh doanh của mình mời đi uống cà phê. Ly cà phê chưa kịp uống xong, người đàn ông đó cất lời: “Đứa trẻ do vợ anh sinh ra là con tôi!”.

Sau câu nói đó là câu chuyện tranh chấp pháp lý liên quan đến yêu cầu xác định cha con kéo dài từ năm 2013 đến nay vẫn chưa ngã ngũ.

Tôi quá bàng hoàng

Người đàn ông tên là Đ.V.L. nói anh và người vợ đã qua đời yêu thương nhau nhất mực, anh chưa bao giờ mảy may nghi ngờ về tình cảm hay lòng chung thủy của vợ – người cùng anh từ quê ra thành phố học hành, lập nghiệp.

“Chúng tôi chung lưng đấu cật vượt qua từ khó khăn này đến khó khăn khác để mở được hai cửa hàng kinh doanh. Rồi vợ tôi sinh cho tôi một cô con gái kháu khỉnh. Công việc làm ăn đang tốt thì vợ tôi đổ bệnh, từ khi phát hiện đến khi cô ấy mất chỉ vài tháng.

Chỉ vài tháng sau đó, người làm công trong cửa hàng nói rằng con tôi là con ruột của anh ta” – anh L. kể về những rắc rối phát sinh với mình. “Tôi chịu đựng sự khủng hoảng, hai cửa hàng giờ chỉ còn một, một mình tôi vừa chăm con vừa lo cho cửa hàng.

Sau đó, anh V. khởi kiện, yêu cầu tôi trả quyền nuôi dưỡng, chăm sóc đứa bé cho anh ta. Anh ấy vốn được vợ chồng tôi trả lương để làm việc ở cửa hàng, trong quan hệ hằng ngày không có gì bất thường khiến tôi đặt dấu hỏi hay sự nghi ngờ về lòng chung thủy của vợ tôi” – anh L. kể.

Nén xúc động, anh L. kể tiếp: “Khi V. nói điều đó với tôi, bé N. (con gái tôi) mới 2 tuổi. Một đứa bé vừa mất mẹ, còn chưa ý thức được nỗi mất mát lớn lao ấy nên tôi vừa làm cha, vừa làm mẹ bù đắp tình cảm thiếu thốn cho con, chăm sóc nuôi dưỡng cháu.

Nghe những lời thốt ra từ miệng V., tôi đứng dậy bỏ đi, vì nếu tôi không kiềm chế, sợ rằng đã có điều gì đó không hay xảy ra. Sau khi đưa ra yêu cầu trả con nhưng không được tôi đáp lại, V. đưa đơn ra tòa, yêu cầu tòa tuyên bé N. là con ruột của V. và yêu cầu tôi phải giao bé N. cho anh ta chăm sóc.

Đến nay, gần hai năm vụ kiện diễn ra, không biết bao nhiêu lần tôi bị tòa mời lên làm việc, phiền phức vô cùng, trong khi vẫn một mình chăm con, vẫn phải lao động kiếm tiền nuôi cháu.

Trong một lần hòa giải tại tòa, tôi nói với V., nếu thật sự yêu thương đứa bé, anh có thể đến thăm, cùng tôi chăm sóc và nuôi cháu trưởng thành, khi bé lớn, có đủ nhận thức thì cháu sẽ tự biết nhận ai là cha ruột. Nhưng V. không chịu, cương quyết kiện đến cùng, rồi tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) đối với tôi, buộc tôi phải đưa con đi lấy mẫu giám định ADN”.

Tôi rất xót xa

Ông N.P.V., nguyên đơn của vụ kiện, cho biết ông làm việc cùng chị P. trong chuyện kinh doanh, vợ chồng chị P. là người trả lương tháng cho ông. “Chúng tôi quý mến và thân thiết với nhau, nhiều chuyện vui buồn P. đều kể với tôi hết.

Tuy nhiên, sau đó chúng tôi đi quá giới hạn của bạn bè”. V. cho biết trước khi qua đời, chị P. có đưa cho ông giấy khai sinh của bé và bảo ông mang đi xét nghiệm ADN: “Dù cô ấy không nói với tôi đó là con tôi nhưng với việc yêu cầu tôi đi xét nghiệm ADN, tôi hiểu cô ấy muốn nói gì”.

Ông V. cho biết khoảng tháng 9-2012, ông tự lấy mẫu tế bào của bé N. và chính mình đi xét nghiệm ADN, kết quả tương thích đến 99,99%. “Tôi rất xúc động với điều này, bởi tình cảm thiêng liêng cha và con, tôi đã nói với P. về kết quả, cô ấy dặn tôi hãy chăm sóc và nuôi dưỡng đứa trẻ với trách nhiệm của người cha” – ông V. kể.

“Tôi rất xót xa khi không được trực tiếp chăm sóc và yêu thương, dạy dỗ cháu nên đề nghị L. giao lại đứa bé cho tôi. Nhưng vừa nghe tôi nói xong, L. đứng phắt lên bỏ đi. Từ đó tôi không thể tiếp xúc với L. cũng như với bé N.. Hằng ngày tôi chỉ được quan sát bé N. từ xa bằng cách đi theo người chở cháu từ trường học về nhà hoặc ngược lại. Nhiều hôm đi gần con, muốn được ôm con mà không được, tôi đau xót lắm” – ông V. kể.

“Mong muốn lớn nhất của tôi bây giờ là được gần gũi chăm sóc bé. Từ ngày khởi kiện L. đến nay cũng đã gần hai năm, cũng không biết đến khi nào thì vụ kiện mới xong” – ông V. nói và khẳng định nếu được giao quyền nuôi con, ông tự tin mình hoàn toàn có thể chăm sóc cho bé N. tốt nhất.

Tòa đã làm gì?

Tháng 10-2013, ông N.P.V. gửi đơn lên TAND Q.4 yêu cầu xác định cháu N. (sinh năm 2010) là con ruột của ông, kèm đơn là biên bản giám định ADN (do một trung tâm phân tích ADN xác nhận) xác định ông V. và bé N. là cha con. Tòa xác định đây là vụ án dân sự hôn nhân và gia đình “xác định cha cho con” đồng thời xác định ông Đ.V.L. (40 tuổi, ngụ Q.4), hiện là cha hợp pháp của cháu N., là bị đơn.

Tháng 1-2014, TAND Q.4 căn cứ điều 115 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định áp dụng BPKCTT buộc ông L. đưa cháu N. đến Phân viện Khoa học hình sự (Bộ Công an) tại TP.HCM để lấy mẫu giám định ADN. Tuy nhiên, ông L. không chấp nhận đưa bé N. đi lấy mẫu xét nghiệm.

Tháng 4-2014, Chi cục Thi hành án dân sự Q.4 ra quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng vẫn không thi hành được. Ngày 1-6-2015, TAND Q.4 ra quyết định hủy bỏ BPKCTT. Song ngày 2-6-2015, TAND Q.4 tiếp tục ra quyết định áp dụng BPKCTT mới, buộc ông L. phải đưa bé N. đến Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế TP.HCM để cung cấp mẫu vật tiến hành giám định ADN.

Ngày 15-6-2015, tòa này cũng ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện để chờ kết quả giám định ADN của bé N. và ông V..

Góc nhìn của các luật sư

Theo ông Phạm Công Hùng – nguyên thẩm phán TAND tối cao, trong vụ kiện “xác định cha cho con” này, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông V. cho thấy về mặt tố tụng, TAND Q.4 đã xác định sai bản chất của vụ kiện và xác định sai đối tượng kiện.

Đơn khởi kiện của ông V. gồm hai yêu cầu: công nhận là cha con giữa ông V. và cháu N., yêu cầu tòa giao quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu bé cho ông. Tuy nhiên, trên giấy khai sinh của cháu bé, tên cha là ông L., mà hôn nhân của ông L. và mẹ cháu bé là hợp pháp.

Như vậy, dựa vào yêu cầu khởi kiện của ông V., yêu cầu xác định bé N. là con mình, bản chất thật sự của vụ án này là “xác định con cho cha mẹ”. Vấn đề này trong Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định tại khoản 1 điều 64, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định tại khoản 1 điều 89: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu tòa án xác định người đó là con mình”.

Do đó, đối tượng để ông V. “kiện” ở đây chính là đứa trẻ chứ không phải là ông L.. Tuy nhiên, do đứa trẻ còn quá nhỏ nên không thể tham gia vụ kiện, bé cũng chưa thể “từ chối” hay “nhận” cha theo yêu cầu của ông V.. Đứa trẻ và người giám hộ của cháu (ông L.) không yêu cầu xác định cha cho bé, nên việc tòa dựa vào đơn của ông V. và xác định ông L. là bị đơn là sai đối tượng bị kiện.

Và xét về bản chất vụ tranh chấp, do đây là án dân sự, nguyên tắc người khởi kiện (tức là ông V.) phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, không thể buộc người khác cung cấp chứng cứ.

Ông Hùng cho rằng về góc độ xã hội, những vụ kiện như thế này không chỉ khiến một gia đình mà có thể có nhiều gia đình lâm vào bi kịch, gây chia rẽ và mất mát tình cảm nghiêm trọng nếu các bên không tìm được giải pháp ngoài tòa án mà xử sự với nhau cho thấu tình đạt lý.

Còn theo TS Lê Minh Hùng – khoa dân sự Trường đại học Luật TP.HCM, trong vụ việc này có hai vấn đề xung đột với nhau: quyền được yêu cầu tòa án xác định con cho mình của ông V. và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của bé N. – thuộc nhóm quyền nhân thân đã được Hiến pháp và luật bảo vệ.

Đối với quyền yêu cầu tòa xác định con cho mình, ông V. có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng chứng minh mình là cha, ông L. không có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng. Việc tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu ông L. phải cung cấp mẫu để giám định ADN là vi phạm quyền nhân thân của bé N..

Hành vi cưỡng chế một đứa trẻ để lấy mẫu giám định gây hoang mang và làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của trẻ sau này. Trong trường hợp này, ông L. đang là cha hợp pháp của trẻ, nên ông có nghĩa vụ bảo vệ quyền nhân thân và quyền bất khả xâm phạm đối với thân thể của bé N..

“Xét về bản chất, đây là vụ án “truy nhận con”. Bộ luật dân sự (điều 43 về quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con, khoản 1) quy định: Người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là con của người đó”.

Như vậy, việc ông V. gửi đơn đến tòa án để nhờ giải quyết, xác định bé gái N. là con của mình là thực hiện “quyền” của ông. Vì vậy mà tòa quận 4 đã thụ lý.

Nhưng về mặt tố tụng, do đây là vụ án dân sự nên nguyên tắc chung là nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự: ông V. phải có chứng cứ chứng minh cháu bé là con của mình thì mới được tòa công nhận cháu là con ông V..

Hiện nay, chứng cứ để xác định quan hệ huyết thống cha – con chính xác nhất có lẽ là kết quả giám định ADN. Nên ông V. phải có được chứng cứ này cung cấp cho tòa, muốn vậy ông V. phải có được “mẫu vật” lấy từ cơ thể cháu bé (máu, tóc…).

Theo hồ sơ, ông V. đã cung cấp một bản kết quả giám định ADN nhưng đây là chứng cứ do ông tự đi giám định nên “không có giá trị tố tụng”. Do vậy, để kết quả giám định được sử dụng làm chứng cứ phải có quyết định trưng cầu giám định của tòa án.

Luật cũng quy định trong trường hợp đương sự không thể có được chứng cứ thì có quyền yêu cầu tòa thu thập giúp. Theo đó, tòa sẽ ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ – gửi cá nhân, tổ chức đang giữ chứng cứ đó. Đến đây, tòa đã làm đúng.

Nhưng việc tòa áp dụng “biện pháp khẩn cấp tạm thời” là sai, do trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà luật quy định, không có chuyện phải giao một “mẫu vật” trên cơ thể người, chưa kể đây là thân thể của một cháu bé, việc “cưỡng chế” hay “ép buộc” đều không đúng luật. Đây là vụ án dân sự chứ không phải hình sự.

Tuy nhiên, dù đau lòng hay tức giận, người lớn cũng cần có trách nhiệm hợp tác xác định sự thật cháu bé là con ai. Vấn đề là ở sự lựa chọn thời điểm, có thể đợi khi cháu N. đã trưởng thành, tránh tổn thương, gây hại cho cháu. Bởi vấn đề này thuộc phạm trù đạo đức hơn là pháp luật.

LS Trần Hồng Phong

HOÀNG ĐIỆP


Leave a comment

Dịch thuật ngữ khoa học sao cho đúng? (Tổng hợp link)

Đành rằng, nếu thuật ngữ sử dụng được định nghĩa, giải thích rõ ràng, được mọi người cùng chấp nhận và sử dụng thống nhất thì tính hợp lý của tên gọi không phải là vấn đề quan trọng. Thế nhưng, nếu thuật ngữ lựa chọn đã xét đến tính hợp lý của từ ngữ thì việc chấp nhận và ghi nhớ trở nên dễ dàng hơn.

Lê Hoàng Nhi

1. Lý luận

Mai Thị Loan, Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 27 (2011) 53-66

Các nhà khoa học nước ngoài và trong nước đã nêu rất nhiều đặc điểm của thuật ngữ, như thuật ngữ phải có tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn, tính đơn nghĩa. Vấn đề đặt ra ở đây là, chúng ta phải giải quyết như thế nào trong bốn mối quan hệ: chính xác và ngắn gọn, quốc tế và dân tộc, hay nói cách khác liệu tính quốc tế có mâu thuẫn với tính dân tộc, tính chính xác có mâu thuẫn với tính ngắn gọn hay không.
Michael Henry Heim & Andrzej W. Tymowski, Hướng dẫn dịch văn bản khoa học xã hội, American Council of Learned Societies
Bản hướng dẫn này đề cập đến việc dịch những văn bản thuộc các chuyên ngành khoa học thường được gọi là khoa học xã hội […], nhưng đồng thời nó có thể áp dụng cho việc dịch những văn bản của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, hay của báo chí và các cơ quan thông tin đại chúng khác. Có lẽ cũng có thể áp dụng phần lớn bản hướng dẫn này vào quá trình dịch các văn bản thuộc khoa học nhân văn (triết học, lịch sử, lịch sử nghệ thuật, khoa học âm nhạc, phê bình văn học, v.v. . . .).
Xem thêm cuốn này;

2. Triết học

Nguyễn Tấn Hùng, Về một số thuật ngữ triết học, chính trị – xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài, Tạp chí Triết học, Đại học Đà Nẵng,

  • Phản ánh được nội hàm của khái niệm gốc, nhưng không sát với thuật ngữ gốc của nó: tam quyền phân lập, chủ nghĩa thực dụng
  • Dịch sai cả về tên và nội hàm của khái niệm: chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa bảo thủ, v.v.

3. Kinh tế – luật

Giang Le, đăng trên Google+

Dù biết từ “hàng hoá” sẽ bị nhầm với “goods” nhưng không nghĩ ra được phương án nào tốt hơn. […] Tôi đoán các học giả trước năm 1975 cũng phải đánh vật với thuật ngữ này trước khi chọn từ “thương phẩm”. Giải pháp sử dụng chữ “thương” của họ vô cùng hay vì gắn được từ commodity với gốc gác mercantile của từ này. Những người dịch lúc đó phải hiểu rất rõ gốc gác của từ commodity, và tất nhiên họ phải có vốn Hán Việt thâm sâu. Còn tôi những lúc không thể dùng từ “hàng hoá” vì không muốn bị nhầm với “goods” chỉ đủ trình độ dịch thoáng thành “nhiên nguyên liệu thô”, quả thực là rất thô/phô.

Lê Hoàng Nhi, Tên gọi cho Hợp đồng và Thị trường kỳ hạn chuẩn (futures contract)

Để tránh sự lầm lẫn của từ ngữ “kỳ hạn” dành cho “forward” và “futures”, theo thiển ý của tác giả, chúng ta vẫn có thể duy trì tập quán dùng “kỳ hạn” cho “forward” và áp dụng thuật ngữ mới cho “futures” là “kỳ hạn chuẩn”. Từ “chuẩn” ở đây rất đắt giá vì hàm chứa tất cả các yếu tố “tiêu chuẩn hóa” (standardization) bởi thiết chế luật đặc biệt của nhà nước và của Sàn giao dịch. Tính “chuẩn” là cũng là căn cứ phân biệt một cách đầy đủ hợp đồng “forward” (không được chuẩn hóa) và hợp đồng “futures” (được chuẩn hóa).

4. STEM

Ooker, Ken, Lư Quốc Định, Về vấn đề dịch thuật chuyên ngành

Một vật có tính đối xứng tay gồm hai vật có tính thủ tính.

Bình luận một chút ở đây. Ở đây mọi người vẫn chưa đi được đến thống nhất, nhưng xét thấy mình đang bác bỏ cách dịch của Ken, trong khi Ken không bác bỏ cách dịch của mình mà chỉ nói “chỉ là quan điểm cá nhân thôi. Không thể giải trình để thuyết phục bạn được”. Nói thế thì khó mà thuyết phục được :-s Vật lý thì tính viết, nhưng chưa có thời gian viết. Cứ để đây cái đã: Momen lực, khí hiếm, cổ điển, sắc tích, hương tích