Ooker's blog

Tôi và thế giới


Leave a comment

Chìa khóa để học cách phát âm

Truyền thuyết kể rằng, bạn không thể có được giọng chuẩn nếu bạn bắt đầu học sau 7 tuổi, hoặc 12 tuổi, hoặc một độ tuổi nhất định nào đó. Nhưng điều này rõ ràng là không đúng. Các ca sĩ và diễn viên học một giọng mới bất kể độ tuổi, và tính theo trung bình, họ không thông minh hơn những người khác (và khá chắc chắn là họ không bắt đầu học trước 7 tuổi).

Vậy rốt cuộc là sao? Tại sao ai cũng nói là bạn không thể học được cách phát âm tốt khi trưởng thành? Và nếu điều này không đúng, vậy thì cái gì đúng?

Trong bài này, chúng ta sẽ đi vào một nghiên cứu về nhận thức giọng nói và phát âm, và chúng ta sẽ bàn về việc học phát âm một cách hiệu quả khi là người trưởng thành. Nhưng trước khi đi vào vấn đề đó, hãy cho tôi được phép dài dòng một tí.

Sự quan trọng của phát âm

Đây là một chủ đề lớn, và với tư cách là một ca sỹ, đây là một chủ đề vô cùng gần gũi với tôi. Đối với tôi, giọng là một thứ đặc biệt quan trọng.

https://i0.wp.com/fluent-forever.com/wp-content/uploads/2013/05/camera-150x1203.jpg

Đây là một cái fényképezőgép

Theo cá nhân tôi, nếu bạn không học cách nghe được âm thanh của một ngôn ngữ mới, bạn sẽ tốn nhiều thời gian để vật vã nhớ nó. Chúng ta dựa vào âm thanh để hình thành trí nhớ về từ, và nếu bạn thậm chí còn không phân biệt nổi các âm thanh mà bạn nghe, bạn đã gặp bất lợi ngay từ đầu. (Thử nhớ hai từ Hungary này xem: máy ảnh, fényképezőgép  ga xe lửa, vásutállomás . Hai từ này nghe thật kinh dị cho đến khi bạn cảm được tiếng Hung.)

Nhưng ngoài chuyện trí nhớ ra, một giọng phát âm tốt còn làm tăng sự kết nối giữa bạn và người khác. Nó cho những người từ một nền văn hóa khác thấy là bạn không chỉ dành thời gian và công sức để học từ vựng và ngữ pháp của họ, mà còn dành thời gian để học cách họ di chuyển miệng, môi và lưỡi. Bạn biến đổi cơ thể bạn vì họ – bạn cho họ thấy rằng bạn quan tâm tới họ – và chính vì vậy họ sẽ mở lòng vì bạn.

Tôi đã thấy chuyện này nhiều lần khi tôi đi hát hoặc xem biểu diễn tại Châu Âu. Cứ như là một quy luật, bình thường thì khán giả cũng dễ thương, nhưng hễ mà bạn hát bằng tiếng mẹ đẻ của họ, họ lại chuẩn bị lên tinh thần. Họ sẵn sàng cười khích lệ và nói “Tiếng hát nghe thật dễ thương!” hoặc “Nhạc nghe rất hay!”. Nhưng trong thâm tâm, họ đang chuẩn bị tinh thần để bạn băm vằm tiếng nói và văn hóa của mình ngay trước mũi. À, đừng lấy đó làm áp lực nhé.

Ngay lúc đó, nếu bạn làm họ ngạc nhiên bằng một giọng hát chuẩn, họ sẽ mở lòng ra. Đó không còn là nụ cười lịch sự nữa, mà là một nụ cười thật. Bạn cho họ thấy là bạn quan tâm đến họ không chỉ bằng tinh thần, mà còn bằng thể xác, và sự quan tâm này thật khó mà cưỡng lại được.

Nhưng mà thôi, lãng mạn vậy đủ rồi. Giờ làm sao để bạn có thể thật sự làm một cái gì đó để phát âm đây?

Một nghiên cứu về luyện tai và phát âm

Khả năng phát âm chuẩn là một sự tổng hợp của hai kỹ năng chính: luyện tai và luyện miệng. Bạn học cách nghe một âm thanh mới, và bạn học cách tạo lại nó trên miệng. Trong hai kỹ năng, cái đầu tiên là cái khó làm nhất; nếu bạn nghe được một âm thanh, thì rồi bạn cũng sẽ học được cách tạo ra nó một cách chính xác. Nhưng trước khi đạt được điều đó, bạn sẽ phải vất vả (để nghe được). Cho nên bây giờ, chúng ta sẽ tập trung vào luyện nghe.

Khi đang tìm tài liệu cho quyển sách của tôi, tôi bắt gặp một loạt các nghiên cứu tuyệt vời thực hiện bởi James McClelland, Lori Holt, Julie Fiez và Bruce McClandiss, khi họ cố dạy người Nhật trường thành nghe ra được sự khác nhau giữa “Rock” và “Lock”. Sau khi đọc mấy bài báo của họ, tôi gọi điện cho Ts. McClelland và Ts. Holt và phỏng vấn họ về nghiên cứu đó.

Đầu tiên họ phát hiện ra là luyện nghe không đơn giản, đặc biệt khi ngoại ngữ đó chứa hai âm cực kỳ giống như một âm trong tiếng mẹ đẻ của bạn. Trong trường hợp này là tiếng Nhật, âm “R” [ɺ] của họ nằm ngay chính giữa âm R [ɹ] và L [ɫ] trong tiếng Anh Mỹ. Khi bạn kiểm tra người Nhật trưởng thành về sự khác nhau giữa Rock và Lock (bằng cách cho họ nghe thu âm của một trong hai từ này và hỏi họ đây là từ nào), kết quả không khác gì đánh hên xui (50%). Tới đây thì không được khả quan cho lắm.

Các nhà nghiên cứu mới thử hai phương pháp luyện tập. Đầu tiên, họ cứ cho người Nhật trưởng thành nghe RockLock trong một thời gian, và xem xem liệu họ có khá hơn sau khi luyện tập không.

Không.

Tin này rất xấu. Nó cho thấy là tập luyện chẳng có tác dụng gì. Bạn cứ việc nghe RockLock cả ngày (hoặc với người Anh sẽ là 불/뿔/풀 [bul/pul/ppul] trong tiếng Hàn) và bạn sẽ chẳng tìm được sự khác nhau giữa chúng. Cái này chỉ tổ xác nhận cho cái truyền thuyết đã quá trễ để học cách phát âm. Khỉ thật.

Phương pháp thứ hai là khuếch đại một cách nhân tạo sự khác nhau giữa LR. Họ bắt đầu bằng những ví dụ cực kỳ rõ (RRrrrrrrrock), và nếu người nghe có tiến bộ, họ sẽ nâng dần độ khó cho tới khi người nghe đạt được sự phân biệt nhỏ giữa hai bản thu một cách tương đối. Phương pháp này khá hơn chút ít. Những người tham gia bắt đầu nghe được sự khác nhau giữa RockLock, nhưng lại không nghe được sự khác nhau của một cặp từ khác, như RoadLoad. Lại là một ngõ cụt nữa.

Sau đó họ thử cho thêm sự phản hồi, và tất cả mọi thứ liền thay đổi.

Thí nghiệm thêm phản hồi với cặp từ

Họ lặp lại y chang thí nghiệm, chỉ trừ lần này, khi mỗi người tham gia đưa ra câu trả lời (“Cái này là Rock“), màn hình máy tính sẽ nói cho họ biết đúng hay sai (“ding – Chính xác!”). Chỉ trong ba lần, mỗi lần 20 phút sử dụng loại luyện tập này, người tham gia đã thật sự nắm được khả năng nghe RL, trong mọi hoàn cảnh.

Không phải là ngẫu nhiên, khi đây chính là cách ca sỹ và diễn viên học. Tuy ta học có người hướng dẫn chứ không học qua máy, nhưng nguyên lý thì vẫn là một. Ta ngồi kế bên giáo viên luyện giọng và nhờ họ đọc một đoạn chữ. Sau đó ta sẽ đọc to đoạn chữ đó lên, và người giáo viên sẽ chỉ cho biết ta đọc đúng chỗ nào và sai chỗ nào. Họ cho chúng ta sự phản hồi. Họ sẽ nói những điều đại loại như “Không, cái anh nói là siehe, không phải sehe. Siehe…Sehe. Nghe ra không?” Và họ vẫn tiếp tục đưa phản hồi dù cho ta đã gần đạt (“Anh đang nói [một cái gì đó giống ‘sehe’], nhưng không phải sehe.”) Sau khi được hướng dẫn, chúng ta về nhà, nghe lại đoạn thu âm của những buổi tập này, và dùng những đoạn thu này để cho ta thêm nhiều phản hồi hơn.

Có một vài lưu ý cho vấn đề này. Người tham dự không hoàn toàn đạt tới trình độ hoàn toàn nghe được sự khác nhau giữa Rock Lock. Độ chính xác của họ cao nhất chỉ khoảng 80%, so với ~100% như người bản xứ. Tìm hiểu sâu thêm sẽ cho ta biết tại sao.

Chords

Phụ âm có rất nhiều cấu tử khác nhau (gọi là formant). Về cơ bản, một phụ âm rất giống một hợp âm trên piano. Trên một cây piano, nếu bạn chơi một nhóm các nốt nhất định cùng với nhau, bạn sẽ nghe được hợp âm. Đối với phụ âm, nếu bạn tạo một nhóm các nốt (phức tạp hơn), bạn sẽ nghe được một phụ âm. Đây không phải là lối nói ẩn dụ; nếu bạn có một cây piano được máy tính hóa, bạn thậm chí còn có thể dùng nó để phát ra tiếng người.

Người Anh bản ngữ có thể phân biệt được sự khác nhau giữa RL nhờ vào một điểm mấu có tên là formant thứ ba – về cơ bản nó là nốt thứ ba trong bất kỳ hợp âm R hoặc L. Người Nhật bản ngữ tốn nhiều thời gian cho mấu chốt này, và sau khi họ đã vượt qua bài kiểm tra, họ cũng không thật sự nghe được nó tốt hơn. Thay vào đó, họ học cách sử dụng một điểm mấu dễ hơn là formant thứ hai – nốt thứ hai trong hợp âm R/L. Cái này cũng có tác dụng, nhưng không đảm bảo 100%, vì thế giải thích được tại sao họ không thể có được kết quả như người bản ngữ.

Khi tôi nói chuyện với các nhà nghiên cứu qua điện thoại, họ hầu như đã dừng cuộc nghiên cứu này, kết luận là họ không biết làm cách nào để tăng độ chính xác lên trên 80%. Họ cũng khá thất vọng về kết quả này.

Tiềm năng cho tương lai

Nhưng hãy nhìn lại một chút về những gì chúng ta đạt được.

Trong vòng ba đợt, mỗi đợt 20 phút, họ đã hạ gục một trong những thách thức ngôn ngữ khó nhất – học cách nghe một âm mới – và tăng độ chính xác từ 50% (đoán mò) lên đến 80% (không tệ chút nào).

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có công cụ này ở mọi ngôn ngữ? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta có thể khởi đầu mọi thứ bằng việc nghe thử một vài bài kiểm tra có phản hồi và có một đôi tai có độ chính xác là 80%, trước cả khi chúng ta bắt đầu học phần còn lại của ngôn ngữ?

Chúng ta có những công cụ để luyện theo cách riêng của chúng ta. Tất cả những gì bạn cần là một hệ thống lặp lại sau từng khoảng (spaced repetition system) có hỗ trợ file âm thanh, như Anki, và một bộ tốt các thu âm mẫu của các từ dễ nhầm lẫn (một nhóm các từ như rock/lock, thigh/thy’s niece/knee trong tiếng Anh, hoặc sous/su, bon/ban’s huis/oui’s trong tiếng Pháp). Cái này tốn nhiều công để làm, nhưng nó chỉ cần được làm một lần, sau đó cả cộng đồng sẽ được hưởng lợi.

Nên là tôi sẽ làm điều đó.

Phát âm cực kỳ quan trọng, và giải pháp này thật giá trị để đợi cho một công ty lớn nào đó chịu làm. Trong vòng 9 tháng tới, tôi sẽ bắt đầu tạo các danh sách từ mẫu tốt, thu âm chúng và xây dựng các bộ từ (trong Anki). Tôi sẽ tuyển những người song ngữ, vì nhờ có họ, ta sẽ có những bản thu để học sự khác nhau không chỉ ở hai từ trong ngôn ngữ đích, mà còn ở hai từ giữa ngôn ngữ đích và ngôn nữa mẹ đẻ của bạn (sous vs Sue). Tôi có được ý tưởng này nhờ Ts. McClelland, và ông cho rằng nhờ cái này ta sẽ học còn tốt hơn nữa (eo, ta sẽ có thể có khả năng phá vỡ rào thế 80%). Và tôi sẽ làm một vài bản beta mở để chỉnh cho tới lúc học nó vừa có hiệu quả lại vừa vui.

Hi vọng là, với đúng công cụ, ta sẽ đưa truyền thuyết “đã quá trễ để học phát âm” vào dĩ vãng. Ta cũng sẽ có nhiều thảnh thơi hơn khi học ngôn ngữ, và ta cũng sẽ dễ dàng hơn để thuyết phục mọi người quên đi tiếng mẹ đẻ của chúng ta và nói bằng thứ tiếng của họ (tác giả có tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ).

Dịch từ Fluent Forever, The Key To Learning Pronunciation, 5/12/2013.


Leave a comment

Dịch thuật ngữ khoa học sao cho đúng? (Tổng hợp link)

Đành rằng, nếu thuật ngữ sử dụng được định nghĩa, giải thích rõ ràng, được mọi người cùng chấp nhận và sử dụng thống nhất thì tính hợp lý của tên gọi không phải là vấn đề quan trọng. Thế nhưng, nếu thuật ngữ lựa chọn đã xét đến tính hợp lý của từ ngữ thì việc chấp nhận và ghi nhớ trở nên dễ dàng hơn.

Lê Hoàng Nhi

1. Lý luận

Mai Thị Loan, Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 27 (2011) 53-66

Các nhà khoa học nước ngoài và trong nước đã nêu rất nhiều đặc điểm của thuật ngữ, như thuật ngữ phải có tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn, tính đơn nghĩa. Vấn đề đặt ra ở đây là, chúng ta phải giải quyết như thế nào trong bốn mối quan hệ: chính xác và ngắn gọn, quốc tế và dân tộc, hay nói cách khác liệu tính quốc tế có mâu thuẫn với tính dân tộc, tính chính xác có mâu thuẫn với tính ngắn gọn hay không.
Michael Henry Heim & Andrzej W. Tymowski, Hướng dẫn dịch văn bản khoa học xã hội, American Council of Learned Societies
Bản hướng dẫn này đề cập đến việc dịch những văn bản thuộc các chuyên ngành khoa học thường được gọi là khoa học xã hội […], nhưng đồng thời nó có thể áp dụng cho việc dịch những văn bản của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, hay của báo chí và các cơ quan thông tin đại chúng khác. Có lẽ cũng có thể áp dụng phần lớn bản hướng dẫn này vào quá trình dịch các văn bản thuộc khoa học nhân văn (triết học, lịch sử, lịch sử nghệ thuật, khoa học âm nhạc, phê bình văn học, v.v. . . .).
Xem thêm cuốn này;

2. Triết học

Nguyễn Tấn Hùng, Về một số thuật ngữ triết học, chính trị – xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài, Tạp chí Triết học, Đại học Đà Nẵng,

  • Phản ánh được nội hàm của khái niệm gốc, nhưng không sát với thuật ngữ gốc của nó: tam quyền phân lập, chủ nghĩa thực dụng
  • Dịch sai cả về tên và nội hàm của khái niệm: chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa bảo thủ, v.v.

3. Kinh tế – luật

Giang Le, đăng trên Google+

Dù biết từ “hàng hoá” sẽ bị nhầm với “goods” nhưng không nghĩ ra được phương án nào tốt hơn. […] Tôi đoán các học giả trước năm 1975 cũng phải đánh vật với thuật ngữ này trước khi chọn từ “thương phẩm”. Giải pháp sử dụng chữ “thương” của họ vô cùng hay vì gắn được từ commodity với gốc gác mercantile của từ này. Những người dịch lúc đó phải hiểu rất rõ gốc gác của từ commodity, và tất nhiên họ phải có vốn Hán Việt thâm sâu. Còn tôi những lúc không thể dùng từ “hàng hoá” vì không muốn bị nhầm với “goods” chỉ đủ trình độ dịch thoáng thành “nhiên nguyên liệu thô”, quả thực là rất thô/phô.

Lê Hoàng Nhi, Tên gọi cho Hợp đồng và Thị trường kỳ hạn chuẩn (futures contract)

Để tránh sự lầm lẫn của từ ngữ “kỳ hạn” dành cho “forward” và “futures”, theo thiển ý của tác giả, chúng ta vẫn có thể duy trì tập quán dùng “kỳ hạn” cho “forward” và áp dụng thuật ngữ mới cho “futures” là “kỳ hạn chuẩn”. Từ “chuẩn” ở đây rất đắt giá vì hàm chứa tất cả các yếu tố “tiêu chuẩn hóa” (standardization) bởi thiết chế luật đặc biệt của nhà nước và của Sàn giao dịch. Tính “chuẩn” là cũng là căn cứ phân biệt một cách đầy đủ hợp đồng “forward” (không được chuẩn hóa) và hợp đồng “futures” (được chuẩn hóa).

4. STEM

Ooker, Ken, Lư Quốc Định, Về vấn đề dịch thuật chuyên ngành

Một vật có tính đối xứng tay gồm hai vật có tính thủ tính.

Bình luận một chút ở đây. Ở đây mọi người vẫn chưa đi được đến thống nhất, nhưng xét thấy mình đang bác bỏ cách dịch của Ken, trong khi Ken không bác bỏ cách dịch của mình mà chỉ nói “chỉ là quan điểm cá nhân thôi. Không thể giải trình để thuyết phục bạn được”. Nói thế thì khó mà thuyết phục được :-s Vật lý thì tính viết, nhưng chưa có thời gian viết. Cứ để đây cái đã: Momen lực, khí hiếm, cổ điển, sắc tích, hương tích


1 Comment

Đàn ông nói “Uh”, đàn bà nói “Um”

Cách ngập ngừng là một dấu hiệu tinh tế cho biết tính cách và ý muốn nói của chúng ta.

Um, các câu. Tôi có một số điều muốn chia sẻ, và nói trước, đó là nó, uh, sẽ làm cho các cậu để ý kỹ hơn cách các cậu nói trong vài ngày tới.

Bạn có biết là khi bạn bắt đầu kiếm một từ, hoặc định nói một điều gì đó nhẹ nhàng hơn ý thật sự của bạn, hoặc đang cố gắng động não là bạn đã thật sự nói rồi không? Mỗi khi bạn nói “um” hay “uh” trong những trường hợp như vậy là có thể phụ thuộc vào việc bạn là nam hay là nữ.

Khi ta ngưng nói là lúc đó ta thật sự nói: “giống” như khi một giáo viên văn lớp tám sẽ nói với bạn, làm cho người nói có giọng trẻ và khác biệt (???), “kiểu như” thể hiện sự không chắc chắn. Nhưng theo như nhà ngôn ngữ học Mark Liberman, người làm tại trường Đại học Pennsylvania và blog trang Language Log, ngay cả sự khác biệt rất nhỏ như “um” và “uh” cũng cung cấp manh mối cho giới tính của người nói, khả năng ngôn ngữ và thậm chí là kinh nghiệm sống.

Trong phân tích của anh ấy, Liberman đã phân tích 14,000 cuộc nói chuyện qua điện thoại được ghi âm lại, trong đó bao gồm hơn 26 triệu từ và đến từ khoảng 12,000 người từ khắp nước Mỹ.

Vào thời điểm năm 2005, anh ấy đã thấy mức độ sử dụng “uh” tăng lên theo tuổi, nhưng tại bất kỳ độ tuổi nào, đàn ông luôn nói nhiều hơn phụ nữ. Trong khi đó, mức độ dùng “um” giảm theo tuổi, nhưng nữ lại nói nhiều hơn nam trong mỗi giai đoạn cuộc đời.


Mức độ sử dụng “Uh” và “Um” giữa đàn ông và phụ nữ

Tần số sử dụng uh/um, theo độ tuổi, tỉ lệ với tần số sử dụng mạo từ “the”. (Mark Liberman)

Một cách tổng quát, anh ấy thấy phụ nữ nói “um” nhiều hơn 22 phần trăm so với đàn ông, nhưng đàn ông nói “uh” nhiều gấp đôi so với phụ nữ. Một nghiên cứu năm 2011 của Eric Acton cho kết quả tương tự.

Khi hai giới tính nói chuyện với nhau, họ cố gắng đến với nhau: “Nam dùng uh ít hơn khoảng 14 phần trăm khi họ nói chuyện với nữ hơn là nói với nam, và nữ dùng uh nhiều hơn khoảng 20 phần trăm khi nói với nam hơn là nói với nữ”. Liberman viết. (Không có nhiều điều chỉnh như vậy với “um”.)

Cái Liberman tìm thấy, về cơ bản, là đàn ông trẻ tuổi nói chuyện giống như phụ nữ lớn tuổi.: “Tỉ lệ sử dụng “um” của đàn ông trẻ gần như giống với tỉ lệ dùng “um” ở phụ nữ lớn tuổi”.

Khó để xác định cái chính xác mà điều này nói về cách mà hai giới tính nghĩ về chính họ – hoặc lời của họ. Một bài báo năm 2001 tìm thấy đàn ông sử dụng tất cả các “bộ lọc ngôn ngữ” nhiều hơn so với phụ nữ. Nhưng một nghiên cứu công bố vào tháng sáu lại cho thấy trong khi đàn ông và phụ nữ nói “um” hoặc “uh” ngang nhau, phụ nữ lại nói “you know”, “lkie” và “I mean” nhiều hơn. Nghiên cứu đó gợi ý rằng người sử dụng những loại “từ diễn ngôn” (discourse marker) đó có nhiều đồng cảm và tận tâm hơn—hai đặc điểm mà phụ nữ thường được nghĩ sẽ biểu hiện do bị xã hội hóa (two traits women are often thought to be socialized to exhibit)

Liberman cũng chỉ ra rằng “um” và “uh” thể hiện tính lưu loát và thông minh khác nhau trong ngôn ngữ. “Người ta thường dùng UM khi họ đang suy nghĩ nên nói cái gì, và UH trong khi họ suy nghĩ nên nói như thế nào,” anh nói với tôi qua email. “Khi người ta già đi, họ gặp ít khó khăn hơn trong việc xác định phải nói cái gì (vì họ biết nhiều hơn), và nhiều khó khăn hơn trong việc nói như thế nào (vì họ biết nhiều từ và cụm từ cố định, và vì thế gặp khó khăn hơn trong việc chọn lựa). Kết quả là, về già người ta dùng ít UM và nhiều UH.”

Như vậy, có một giả thuyết là, “Tại bất kỳ độ tuổi (trưởng thành) nào, đàn ông có nhiều kinh nghiệm trong ngôn ngữ hơn phụ nữ, nên họ dùng UM và UH như thể họ lớn tuổi hơn,” anh nói. “HOẶC CÓ THỂ: Phụ nữ có nhiều thận trọng trong giao tiếp hơn đàn ông, vì thế có xu hướng ngưng lại trước khi quyết định mình sẽ nói điều gì; nhưng vì phụ nữ nói lưu loát hơn đàn ông, và vì thế ít khả năng ngưng lại để xác định từ cần dùng.”

Một nghiên cứu năm 2000 cho thấy người ta dùng “um” cho đoạn ngưng dài và “uh” cho đoạn ngưng ngắn, vì thế có lẽ phụ nữ có ý gợi ý một đoạn ngưng dài. Phụ nữ cũng dùng “những tiếng tán thành nho nhỏ” (assenting murmurs) nhiều hơn trong cuộc hội thoại—uh-huhs và mm-hmms—và họ cười nhiều hơn 60 phần trăm so với đàn ông. Có thể cái “um” với cái mmm dài, với sự cân nhắc cẩn trọng và với sự khôn khéo trong đó, đơn giản là sự mở rộng toàn bộ lòng chân thành của phụ nữ về mặt ngôn ngữ. Trong một phân tích về các từ và tiếng được dùng thường xuyên nhất ở các cuộc hội thoại giữa nam và nữ, Liberman thấy rằng thứ giúp phân biệt rõ nhất phụ nữ là “[tiếng cười]” và cho nam là “uh”. Các từ “gosh” và “goodness” có trong danh sách của nữ, trong khi “shit” thậm chí còn xuất hiện ở danh sách của nam.

 
Liberman ghi chú, điều này khớp với một nghiên cứu năm 2013 phân tích các bài viết trên Facebook của nam và nữ và thấy rằng nam có thể được nhận dạng bằng “fuck”, “wishes”, và “xbox”, trong khi nữ nổi bật với các từ như “shopping”, “excited” và “<3”.


Các từ trên Facebook có liên quan nhiều nhất, theo giới tính

Các từ có liên quan nhiều nhất tới các bài viết của nữ (trên) và nam trên Facebook.(PLoS)

Facebook dĩ nhiên không phải là nơi thể hiện tính một – một của lời nói thật, nhưng nó cho thấy ngay cả khi họ chỉ có một mình, đàn ông thường rất ít quan tâm đến việc biểu lộ hạnh phúc, sự dễ chịu hay “chúc phúc”.

Phụ nữ cũng có xu hướng tiên phong trong ngôn ngữ, mở ra nhiều sự thay đổi trong việc chọn từ một thời gian lâu trước khi đàn ông bắt đầu bắt kịp, Liberman nói. Vì thế cũng có thể “um” đang được sử dụng nhiều hơn “uh” cho tất cả mọi người, và phụ nữ chỉ đơn giản là đang dùng trước.

 
Có một chút sốc khi một số tật trong lời nói đã được nhắc đến trong các lời khuyên của Sheryl Sandberg cho nữ lãnh đạo là họ nên cười nhiều hơn và làm nhiều hơn cho cộng đồng hơn những đồng nghiệp nam của họ.
 
It’s a little shocking how reminiscent some of these verbal quirks are of Sheryl Sandberg’s admonishments to female leaders that they should smile more and act generally more communal than their male counterparts.

There’s probably no overcoming these little rhetorical flags for the long-term. (Going back to the eighth-grade teacher, remember how her threats to deduct points for every “like” in a class presentation only made you say it more?)

Still, I think it might be fun to try to speak like a man for a day. By which I mean, “Uh, I wish I could go play my fucking xbox.”

Dịch lại từ bài viết Men Say ‘Uh’ and Women Say ‘Um’ của tác giả Olga Khazan đăng trên tạp chí Atlantic, ngày 8/8/2014. http://www.theatlantic.com/health/archive/2014/08/men-say-uh-and-women-say-um/375729/