Ooker's blog

Tôi và thế giới


Leave a comment

Vấn đề Việt Nam – Campuchia

Cách đây lâu rồi, tôi có hân hạnh được đọc bản thảo cuốn “When broken glass floats” của Chanrithy Him trước khi nó được xuất bản và trở thành một cuốn sách bán chạy khắp thế giới. Tôi đọc say mê, tím tái cả thân thể bởi câu chuyện rùng rợn của một đứa trẻ sống dưới chế độ Khơ-me Đỏ. Chỉ đến khi đọc tới câu cuối cùng, tôi mới như bị dội một xô nước lạnh vào mặt. Chanrithy nói rằng, cô “…thoát chết trong gang tấc, và trái tim cô gái nhỏ thắt lại, bởi cùng với nỗi khổ hạnh đã qua, cô nhìn thấy đất nước Campuchia đang chuẩn bị chìm trong bóng tối cuộc xâm lược từ một kẻ thù truyền kiếp: Việt Nam”.

Những cuộc biểu tình phản đối Việt Nam, những cuộc đụng độ và bài trừ dân Việt ở Campuchia đã diễn ra từ tháng 7 năm ngoái khi chính quyền thân Việt của Hun Sen thắng cử với nhiều cáo buộc gian lận. Đỉnh điểm vào ngày 6-6, Tham tán ĐSQ Việt Nam Trần Văn Thông tuyên bố rằng miền Nam VN đã chính thức thuộc về VN từ rất lâu, trước cả khi Pháp chiếm đóng. Bắt đầu từ tuyên bố này, cờ Việt bị đốt, người Việt bị thanh trừng, lãnh đạo đảng đối lập liên tục gọi thiểu số Việt là “yuon” (savage/man rợ [*]), một bộ phận dân Cam biểu tình đòi lại vùng Nam Bộ Tây Ninh, ngày 9/10 Cambodia Daily đưa tin người biểu tình đốt tiền VN và dọa đốt sứ quán. Trên face của tôi, bạn bè quốc tế liên tục inbox hỏi thăm, bàn bè làm ăn ở Cam cũng cập nhật tình hình lo ngại, báo chí quốc tế hối hả bình luận. Nhưng đương nhiên, cả trăm triệu dân Việt ở ngay sát nách Campuchia phần lớn vẫn nằm duỗi chân ăn mừng quốc khánh của dải đất hình chữ S. Tại sao báo chí VN không đưa tin đầy đủ?

“Nước mày hình chữ C thì có, “Cờ” … kứt ý!” – một bình luận viên gõ như vậy trên một facebook cá nhân mà tôi quen. Hẳn nhiên, comment vô văn hóa này không thể khiến tôi ngồi yên. Căm ghét kẻ dám xúc phạm quê hương là một chuyện, nhưng tôi cũng thấy mình có trách nhiệm phải đi tìm bằng được những lý giải cho nỗi căm ghét đó. Lịch sử ngày bé tôi học chỉ thấy nói người Cam biết ơn người Việt, đâu có nói đến sự căm hận đến mức như vậy?

Một bài viết trên báo Campuchia ngày 6-9 đưa lời dẫn của môt thanh niên Cam “17/20 người trong số bạn bè của tôi ghét VN, và cho rằng VN có âm mưu mờ ám”.. Bài báo cũng nêu ra thực trạng của nhiều người Việt ở Cam, không có quốc tịch, con cái không được đến trường, không được mua đất, chủ yếu sống trên thuyền với nghề sông nước.
http://www.phnompenhpost.com/post-weekend/out-20-my-friends-17-hate-vietnamese
(Xem bản dich tiếng Viet của Khanh Nguyen ở cuối bài)

Lịch sử (chính thống) luôn được viết bằng ngòi bút của kẻ chiến thắng (Churchill). Chính vì vậy, để trả lời cho câu hỏi tại sao một bộ phận dân Cam ghét VN, tôi quyết định chọn đọc những tư liệu của bên thứ ba, tức là những tư liệu được viết bởi những tác giả không phải người Việt hoặc Cam, và ít có liên quan nhất đến cả Việt Nam và Campuchia. (Tất nhiên không tài liệu nào hoàn toàn khách quan cả, nhưng “không Việt không Cam” thì sẽ dễ có khả năng khách quan hơn). Sau đây là tóm tắt một cách sơ lược nhất. Đề nghị các bạn tìm danh sách tư liệu tham khảo bên dưới để đọc chi tiết.

Vương quốc Khmer nằm kẹp giữa hai láng giềng lớn Việt Thái dần dần mất đất từ nhiều lý do khác nhau. Người Campuchia có câu: “cây thốt nốt mọc đến đâu, đất (xưa) của người Cam trải dài đến đó”. Sách sử Việt Nam có một cách gọi khác, hào hùng hơn: “mang gươm đi mở nước”. Hẳn nhiên, đây là một đường đi phát triển tất yếu của xã hội loài người “cá lớn – cá bé” ở đâu cũng vậy. Đường biên của các bộ lạc, thành phố tự trị, lãnh thổ chư hầu, đế chế và nay là quốc gia đã luôn luôn đổi thay dựa vào thế mạnh yếu từng thời kỳ của từng xã hội. Lịch sử mà VN gọi là “mang gươm đi mở nước” thực chất là một quá trình lâu dài và phức tạp của nhiều yếu tố chứ không chỉ là thanh gươm: di dân, đồng hóa, áp đặt, thỏa hiệp, và cả đánh chiếm từ Bắc xuống Nam (đề nghị xem thêm các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Chính vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng nuôi ít nhiều hằn thù với các nước láng giềng bởi những hiềm khích không thể tránh khỏi trong quá trình xác định biên giới bờ cõi. Đối với người Cam, đế chế Khmer rộng lớn khi xưa bị mất hẳn là một lịch sử tơi bời, và điều này có thể khiến chúng ta hiểu tại sao Campuchia chưa bao giờ hết xích mích với người Thái và chưa bao giờ tin tưởng vào người Việt.

Khi Việt Nam với tham vọng thành lập một liên mính chống Pháp trên toàn Đông Dương, trực tiếp giúp thành lập Đảng dân tộc cách mạng Campuchia (tiền thân của Đảng Cộng sản Campuchia, tức Khmer Đỏ), thì hai bên trở thành đồng minh thân thiết. Tuy nhiên, đằng sau vỏ đồng minh là niềm uất hận mất nước không bao giờ nguôi ngoai, thậm chí biến thành dã tâm tiêu diệt 50 triệu người Việt đến kẻ cuối cùng. Khmer Đỏ cho rằng Việt Nam âm mưu thành lập Khối Đông Dương (Indochina Federation) và dắt mũi các nước khác trong đó có Campuchia. Với hai lý do này, Khmer Đỏ yêu cầu Việt Nam trả lại đất tổ tiên (đề nghị xem chi tiết ở các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Với quân số nhỏ hơn nhiều lần, nhưng Khmer Đỏ liên tục thực hiện các cuộc tàn sát đẫm máu dọc biên giới Việt – Cam làm hơn 300.000 người Việt Nam thiệt mạng. Ngày 17-4-1977, chính quyền VN vẫn còn gửi thông điệp chúc mừng chính quyền Khmer Đỏ sau 2 năm thành lập. Đáp lại lời chúc này, 2 tuần sau, đúng dịp 30-4, quân Khmer bất ngờ tấn công thẳng vào An Giang và Châu Đốc, giết hại hàng trăm dân thường. Việt Nam buộc phải đáp trả. Cuối cùng, (1) chịu không nổi những cuộc đụng độ và tàn sát dã man, (2) cộng với lý do cho là Campuchia cấu kết với Trung Quốc, cực chẳng đã, Việt Nam quyết định nghe theo Liên Xô chính thức kết thúc mối quan hệ đồng minh lúc đó chỉ còn trên danh nghĩa và lật đổ chính quyền Khmer Đỏ bằng vũ lực. Lưu ý lúc đó TQ đối đầu với Liên Xô. VN là đồng minh của Liên Xô còn Khme Đỏ là đồng minh của TQ. Liên Xô muốn hất cẳng TQ ở khu vực nên ủng hô Việt Nam đánh Khme Đỏ là đồng minh của TQ.

Lấy cớ Khmer phạm tội diệt chủng, quân VN tiến vào “giải phóng” Campuchia, lật đổ chính quyền của kẻ từng là đồng minh. Lưu ý rằng truyền thông VN được chỉ đạo tuyên truyền đây là nghĩa vụ quốc tế. Lý do Khmer Đỏ “giết người Việt” không được nhấn mạnh bằng lý do Khmer Đỏ “diệt chủng người Cam”. Việc VN đưa quân vào Cam vì thế được nhấn mạnh là “nghĩa vụ quốc tế”, tạo tiền đề cho kế hoạch của VN tại Cam sau này (đề nghị xem thêm các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Tuy nhiên, VN không ĐÁNH rồi RÚT, mà dựng nên chính quyền bù nhìn thân Việt và bắt đầu thời kỳ hơn 10 năm đóng quân và ảnh hưởng. Lý do tại sao thì có rất nhiều (mời đọc thêm các tư liệu ở dưới), trong đó quan trọng nhất là việc Việt Nam muốn diệt hoàn toàn tàn quân Khmer Đỏ chứ không chỉ làm sụp đổ chính quyền cầm quyền. Có lẽ sự man rợ của Khmer Đỏ khiến VN không thể chấp nhận dù một chút rủi ro từ phía các tàn quân. Lưu ý rằng đến tận năm 92, khi các hiệp định quan trọng đã được ký kết thì Khmer Đỏ vẫn tiếp tục tìm giết người Cam gốc Việt với hy vọng họ sẽ không thể bỏ phiếu. Bản thân VN cũng cho rằng đây là một sai lầm chiến lược vì Việt Nam đã “dính líu quá sâu và quá lâu vào vấn đề Campuchia” (Hồi ký Trần Quang Cơ). Cũng có ý kiến cho rằng VN ban đầu tự vệ và giải phóng Capuchia, sau đó do chạy theo “tham vọng” lớn mà trở thành “sa lầy” ở đây trong một ván cờ của hai nước lớn Trung Quốc đối đầu với Liên Xô (đề nghị xem thêm các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Trong khi người Việt gọi đây là cuộc giải phóng nước láng giềng anh em và giúp bạn xây dựng đất nước, thì chính bản thân người Cam và hầu hết các tư liệu lịch sử ngoài biên giới VN lại cho rằng đây là cuộc xâm lược – (invasion). Khi tôi đến nhà tù S21 nơi trưng bày hàng trăm cái đầu lâu của dân Cam bị giết, thì nơi đây, đáng lý phải coi là tượng đài của việc người Cam biết ơn người Việt thì giấy trắng mực đen trên các tấm bản hướng dẫn khách tham quan vẫn tuyên bố Việt Nam “xâm lược” Campuchia.

Tại sao người Cam coi VN là quân xâm lược dù đã cứu họ thoát khỏi chế độ diệt chủng? Một lý giải cho cách hiểu này (theo như các tài liệu đưa ra ở dưới) là do VN không bó hẹp các hoạt động của mình tại Cam trong phạm vi quân sự để tiêu diệt tàn quân Khmer, mà sau đó đã nhúng tay quá sâu vào chính trị, áp đặt ảnh hưởng của mình lên chính trường Campuchia, hoặc có những chính sách thiếu khôn khéo khiến nhiều người Cam cho rằng VN không chỉ kết thúc chế độ diệt chủng mà còn đang lũng đoạn hệ thống chính trị Cam. Cần phải phân biệt rõ ràng hai chuyện này với nhau, vì đây là hai thái độ tình cảm riêng biệt. Họ mang ơn vì một chuyện (Khmer Đỏ), nhưng sau đó thành mang oán vì những chuyện hoàn toàn khác (thao túng chính trị + cho là VN lấy đất). (Một số bạn comment ở dưới thêm vào lý do một số người Việt làm ăn quá mức tinh quái đến thành lừa lọc nên bị người Cam ghét) .

Tuy nhiên, Trung Quốc coi việc VN dựng lên chính quyền bù nhìn thân Việt là một hành động qua mặt “láo xược” của đàn em, cộng với việc ViệtNam ký kết hiệp ước với Liên Xô được TQ cho là có mưu đồ bành trướng khu vực, nên đã khơi nguồn cuộc chiến tranh biên giới 79 để chia lửa với Khmer Đỏ, và để dằn mặt, nhằm bắt Việt Nam dời quân từ phía Nam lên phía Bắc, tạo điều kiện cho Khmer Đỏ lấy lại sức mạnh (xem trích nguồn bên dưới **).

Trong thời kỳ trụ lại Campuchia, Việt Nam bị dư luận thế giới lên án mạnh mẽ với lý do đã dùng vũ lực chiếm đóng nước khác. Nhiều tư liệu cho rằng các quyết định của chính quyền Campuchia trong thời kỳ này đều phải qua sự kiểm duyệt cuối cùng của VN. Mỗi bộ trưởng Cam đều đi kèm một cố vấn người Việt, chưa kể các cố vấn cho thứ trưởng. 80 nước trên thế giới và Liên Hiệp Quốc công nhận chính quyền Khmer Đỏ là chính quyền duy nhất đại diện cho Campuchia, phủ nhận chính quyền bù nhìn do VN lập nên. Việt Nam không được phép ra nhập nhiều tổ chức kinh tế quốc tế như IMF. Thụy Điển – một nước từng hết sức ủng hộ VN cũng rút toàn bộ viện trợ. Nhiều quốc gia dù CÔNG NHẬN CÔNG TRẠNG của VN trong việc xóa bỏ chế độ man rợ của Khmer Đỏ, nhưng lại không tin rằng ý đồ nguyên thủy của VN là thực sự muốn kết thúc chế độ diệt chủng Khmer. Nhiều nước coi việc VN đánh đổ Khmer chỉ là hệ quả phụ của một ván bài chính trị mà VN có thể vừa là người chơi vừa là nạn nhân. Nhiều nhà sử học đặt giả thuyết nếu Khmer Đỏ không tàn sát dã man người Việt thì hai bên vẫn sẽ tiếp tục là đồng minh, cho dù dân Campuchia có thể bị diệt chủng (xin xem thêm chi tiết trong các tài liệu bên dưới).

Từ góc nhìn này, Thaí Lan – một nước chưa bao giờ cảm thấy thoải mái vì cho rằng VN có tham vọng lớn ở Đông Nam Á, sợ rằng VN sau khi thôn tính Cam sẽ nuốt chửng cả Thái Lan- đã cưu mang những thành viên thất trận của Khmer Đỏ, cùng khối ASEAN yêu cầu VN lập tức rút quân để người Cam có thể thực hiện một cuộc bỏ phiếu mà không bị ảnh hưởng của thế lực nước ngoài. Một số nghiên cứu thậm chí cáo buộc VN vi phạm nhân quyền khi phong tỏa lương thực các vùng do tàn quân Khmer Đỏ chiếm giữ, khiến hệ quả phụ là hơn 600.000 dân Campuchia chết đói (xem trích dẫn nguồn ở dưới**).

Việt Nam có lẽ sẽ còn trụ lại Campuchia lâu hơn thời gian 10 năm nếu Liên Xô và hệ thống các nước XHCN không sụp đổ. Mất sự ủng hộ từ Liên Xô, chính quyền VN lúc đó buộc phải cầu hòa với TQ để tìm chỗ dựa/ anh cả mới. Kết quả của sự đổi chiều này chính là Hội nghị Thành Đô (Chengdu secret meeting) , được tổ chức bí mật và cho đến nay vẫn không hề được công bố. Lấy cớ hai nước cùng chung lý tưởng cộng sản, Lê Đức Anh tuyên bố: ” Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc”

Tuy nhiên, phía TQ một mực yêu cầu sẽ chỉ chấp nhận bình thường hóa quan hệ nếu Viet Nam hoàn toàn rút quân khỏi Campuchia. Trong cuốn Hồi Ký Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao, ghi rõ “kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là “Biên bản tóm tắt” gồm 8 điểm, có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong 7 điểm về Campuchia, 2 điểm là những điểm có tính chất chung về mặt quốc tế mà 2 bên đang còn tranh cãi (giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia; rút hết quân Việt Nam ở Campuchia, còn 5 điểm thì hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc. Không có điểm nào theo yêu cầu của ta cả.”.

Để đổi lại sự ủng hộ của TQ, chính quyền VN không những phải bác bỏ luận điệu chính trị của chính mình suốt 10 năm, coi TQ là kẻ thù, phải từ bỏ ảnh hưởng cuả mình tại Campuchia, rút quân toàn bộ khỏi Cam, mà thậm chí phải sửa đổi cả Hiến Pháp . Hiến pháp năm 1980 gọi TQ là “bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược” nhưng Hiến pháp năm 1992 bỏ hẳn. Cuộc chiến biên giới năm 79 cũng gần như bị xóa khoỉ sách giaó khoa và các tư liệu lịhc sử đại chúng. Mỗi năm đến ngày kỷ niệm, báo chí không được phép đưa tin. Năm 2013, chỉ có duy nhất tờ Thanh Niên đưa headline Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979, và được coi là một tờ báo dũng cảm.

–> Từ những tư liệu đọc được trên đây, cộng với viêc người Việt lâu nay vốn hay có ý coi thường người Cam, tôi đã có thể hiểu được sự kiêu hãnh/ thậm chí thành kể cả ngạo mạn của kẻ tự cho mình là quân giải phóng cứu dân Cam khỏi họa diệt chủng, sự mù mờ dối trá của môn lịch sử đang giảng dạy tại nhà trường (mà thực chất là môn chính trị học, sàng lọc sự kiện)… là những lý do khiến Việt Nam thiếu sự đề phòng với đất nước láng giềng vẫn còn như con thú bị thương này. Bạn tôi nói một bộ phận người Cam nhìn người Việt còn nhiều nghi ngờ sâu sắc hơn cả người Việt nhìn người Trung Quốc. Những người biểu tình chống VN hiện nay ở Cam không chỉ đòi lại đất ngày xưa mà còn yêu cầu người phát ngôn của VN rút lại lời tuyên bố hồi tháng 6 về thực trạng chủ quyền một phần miền Nam VN trước khi Pháp đô hộ. Những kẻ cực đoan và bị kích động thì yêu cầu đuổi người Cam gốc Việt về nước. BBC đã có phóng viên tường thuật tại buổi biểu tình về vấn đề đòi đất của người Cam ngày 6-9.

Sẽ còn mất nhiều thời gian để chúng ta hiểu rằng tại sao 15.000 chiến sĩ hy sinh xương máu ở Campuchia với 30.000 người bị thương mà một bộ phận dân Campuchia lại nhanh chóng chuyển từ biết ơn sang oán thán? Tại sao 5% thiểu số người Việt phần lớn là dân nghèo làm nghề chài lưới hiện ở Cam bị một số người bản xứ nhìn nhận như kẻ thù hơn là những người nhập cư đến làm ăn sinh sống? Bản thân tôi sẽ phải tự đi tìm câu trả lời tại sao gia đình của chính mình phải chịu cảnh chia cắt khi đất nước đã thống nhất mà người đàn ông (ba tôi) vẫn phải tiếp tục lên đường cầm súng ở một chiến trường khác ? Tại sao Khmer Đỏ gọi Việt Nam là “cá sấu”? Cuốn sách đen (The Black book) của Khmer ám chỉ rằng chẳng ai tin con cá sấu, kể cả khi nó rơi nước mắt.

Vậy tại sao tôi viết post này? Lý do thứ nhất đơn giản vì báo chí VN không đưa tin, hoặc đưa tin nhỏ giọt. Bất kể một người dân bình thường nào cũng có quyền được biết nếu quốc kỳ của họ bị đốt ở một xứ ngoại bang. Họ có quyền được biết, và có quyền được hiểu tại sao lại nên cơ sự. Có bạn bảo là tôi đổ dầu vào lửa. Ơ hay, ở Cam mới có lửa chứ ở VN thì đã làm gì có dầu mà đòi châm lửa. Nhiều người Việt không hề biết cờ Tổ Quốc bị đốt, rằng người láng giềng ghét mình như mẻ, thậm chí đòi lại đất cho là “bị cướp” thì tôi dựng cột khói báo tín hiệu cho hay. Nghe tin dữ yếu tim không chịu được thì mắng người đưa tin là sao? Lại nữa, có bạn kêu vừa đi Cam về xong, chả thấy gì? Đương nhiên là bạn không thấy gì rồi. Bạn muốn trước khi người ta đốt cờ VN sẽ gửi email thông báo đến tất cả mấy chục triệu người ở khắp Campuchia để họ và bạn chuẩn bị mang máy ảnh đến chứng kiến chắc? Hay là bạn muốn bản thân mình ngồi trong quán cà phê mà thấy được tất cả những gì diễn ra ở mọi xó xỉnh trên đời? Ai mà cũng như Phật Bà ngàn mắt ngàn tay thấy được mọi thứ như thế thì cần cóc gì đến báo chí? Trong cuốn Con Đường Hồi giáo tôi vừa xuất bản, có hẳn một chương tôi ở Syria cả tháng trời giữa lúc đất nước nội chiến mà chẳng thấy một giọt máu. Bạn “không -thấy-gì” không có nghĩa là “không-có-gì” xảy ra.

Thứ hai, tôi cho rằng sách sử Việt Nam không đưa ra cái nhìn khách quan chân thực. Hẳn nhiên, chúng ta sẽ không-bao-giờ có được cái nhìn khách quan tuyệt đối, nhưng với sự va chạm của những nguồn tư liệu khác nhau không bị kiểm duyệt, chúng ta có thể cố gắng chạm vào gần hơn đến Sự Thật.

Lý do thứ ba, tôi muốn hiểu tại sao người Cam chưa bao giờ ghét người Trung Quốc như ghét người Việt, dù TQ từng chống lưng Khmer Đỏ, thậm chí từ trước khi TQ đầu tư hàng tỷ đô la vào đây và viện trợ đầy phóng khoáng cho Cam? Tại sao Campuchia bỏ phiếu phản lại nỗ lực của khối ASEAN bảo vệ chủ quyền biển Đông chống Trung Quốc tại hội thảo ASEAN 2 năm trước?

Tại sao bên cạnh rất nhiều những người Cam yêu VN lại có những người Cam ghét người Việt đến thế? Tại sao cờ Tổ Quốc tôi bị đốt cháy? Tại sao người Việt ở Cam đang ngày đêm lo sợ?

Tại sao xương máu của bao người Việt ngã xuống mà vẫn không thể đổi lại được lòng tin và tình bằng hữu của nước láng giềng? Tại sao VN tốn kém sức người sức của đến thế mà đổi lại chỉ là một sự nghi ngờ từ phía dân chúng? Nếu ván bài chính trị này tính sai, VN được gì ngoài sự ngã xuống của hàng vạn thanh niên để đổi lại một gia tài oán hận? Khi Hun Sen không còn nắm quyền, VN sẽ xử lý ra sao với một Campuchia thân TQ, xử lý ra sao với tình trạng cả phía Nam lẫn phía Bắc bị bủa vây bởi những láng giềng không hữu hảo?

Ai thực sự biết ơn VN, người Cam hay Hoàng gia Cam? Có phải họ tuy biết ơn VN đã cứu thoát khỏi họa diệt chủng nhưng không thể nguôi đi nỗi thù mất nước từ xa xưa? Có phải họ chịu ơn cứu mạng của VN nhưng lại nhanh chóng bị mất lòng tin khi thấy quân VN sau khi đánh đổ chế độ diệt chủng thì không rút đi mà tiếp tục ở lại, thành lập rồi giật dây chính quyền bù nhìn Heng Samrin?

Có phải những hận thù này đang được cố tình đổ dầu vào lửa, được các đảng phái chính trị đối lập với độc tài Hun Sen ở Cam lợi dụng cho những ván bài chính trị mới, kích động một bộ phận dân chúng tuy nhỏ nhưng hung hăng để tạo phản ứng dây chuyền, và kẻ chịu nạn là những người Cam gốc Việt vô tội?

Hận thù với láng giềng thì hầu như nước nào cũng có. Và tôi tin rằng hận thù nào cũng có thể hóa giải. Trân trọng quá khứ và cởi mở với nhau là điều kiện tiên quyết để tạo nên các mối giao hảo vững bền. Hơn bao giờ hết, quyền lợi của các quốc gia đang được thắt chặt vào nhau.

Hãy nhìn châu Âu mà xem, giết nhau hàng bao nhiêu thế kỷ mà giờ đường biên thênh thang không có cả lính gác. Tạo sao? Bởi châu Âu cũng như rất nhiều nước ngoài châu Âu không ngần ngại phán xét lịch sử của chính mình, phân tích chi ly cái gì đúng cài gì sai, chửi rủa những lỗi lầm của chính mình, liên tục nhắc thế hệ đi sau về những sai phạm của thế hệ đi trước. Có bạn tên @Phạm Trang comment ở dưới nói rằng có đất nước nào bôi xấu lịch sử của mình đâu. SAI ! Lịch sử VN thì đương nhiên là ta làm cái gì cũng đúng, chưa bao giờ chính quyền trên đất nước này làm cái gì sai cả !!!.

Nhưng nếu bạn bước ra thế giới sẽ thấy dù không bao giờ đạt 100% khách quan, nhưng nhiều nước văn minh luôn cố gắng hạn chế dùng lịch sử như một thứ đồ trang điểm cho đẹp hay công cụ tuyên truyền mà cố gắng nhìn nhận nó như một KHOA HỌC, tức là có đúng có sai, có phản biện và tranh luận. Cứ cách vài chục bước chân ở trung tâm Berlin bạn sẽ thấy những tấm biển lớn, chữ hai thứ tiếng Anh-Đức thông báo về những sự kiện lịch sử đen tối của Quốc Xã đã từng diễn ra ở địa điểm hay tòa nhà này trong quá khứ. Trẻ con Hà Lan được học về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc dã man ở Nam Phi mà chính cha ông họ dựng lên, thậm chí bài quốc ca của họ vẫn còn nguyên trạng lời hát: “chúng ta nguyện trung thành với hoàng đế Tây Ban Nha”. Người Pháp và Anh thẳng thắn nhìn nhận hậu quả của những năm dài đô hộ thế giới, lập ra hàng trăm quỹ cứu trợ để hòng chuộc lại một phần lỗi lầm. Người Mỹ không che giấu sự thật về những vụ tàn sát người da đỏ. Thậm chí cả những nước có chủ nghĩa dân tộc cao như Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã bắt đầu công nhận cuộc diệt chủng người Armenia. Thế giới vừa kỷ niệm 100 năm chiến tranh thế giới thứ nhất, hàng triệu bông hoa được cài lên áo cho TẤT CẢ những chiến sĩ ngã xuống ở cả hai phe, bất phân ta-địch.

Người chết luôn luôn được tôn trọng, nhưng những nguyên nhân và hệ quả của chiến tranh, những quyết định của TỔ CHỨC LÃNH ĐẠO thì phải được nhìn nhận rõ ràng đúng sai. Phán xét lịch sử KHÔNG ĐỒNG NGHĨA với phán xét hành động hy sinh xương máu của các chiến sĩ mà là phán xét quyết định của người làm lãnh đạo, gửi quân ra chiến trường. Nói một cách khác, phải phán xét đúng sai để có thể tiết kiệm và tránh được đổ máu cho những người lính của hiện tại và tương lai. Như vậy, cái chết của họ mới không thành những con số vô nghĩa. Tại sao những quốc gia này làm thế? Bởi lịch sử sẽ trở nên vô dụng nếu ai cũng chăm chăm cho rằng mình làm gì cũng đúng, nếu sai thì thì có những lý do này nọ để thông cảm được. Chỉ có tôn trọng lịch sử, nhìn nhận và phán xét đúng sai rõ ràng thì những mối thâm thù mới có thể hóa giải, mới thấy cái chết là không cần thiết, những người từng giết nhau mới có thể nắm tay nhau trở thành bạn làm ăn.

Mối quan hệ Việt Cam may mắn chưa đến mức thảm sát nghiêm trọng như những ví dụ tôi nêu ra ở trên, nhưng cũng lại phức tạp hơn vì trắng đen không rõ ràng, người Cam vừa mang ơn vừa mang oán. Các làn sóng nghi ngờ, thậm chí thù hằn đối với người Việt là có thật và đang bị kích động bằng các chiêu bài chính trị. Nhưng tôi tin rằng hai nước Việt Cam hoàn toàn có thể để quá khứ sang một bên, hóa giải ân oán như chúng ta đã từng làm với Nhật, Pháp, Mỹ. Nếu chúng ta có thể tha thứ được cho kẻ thù, tại sao không thể lắng nghe tâm tư của kẻ mình từng cứu nạn? Và để hóa giải thì buộc phải có sự chân thành, phải có thành ý thực sự muốn tìm hiểu tại sao người hàng xóm lại ghét và nghi ngờ tấm chân tình của mình đến thế dù được mình cứu sống. Trước khi mắng họ vô ơn, hãy kiềm chế cơn giận và lắng nghe họ giãi bày.

Đường biên giới Việt Cam có thể sẽ không bao giờ thay đổi nữa. Cũng như những đường biên giới khác trên thế giới này sẽ không bao giờ thay đổi nữa. Tôi cũng như hàng triệu người Việt khác sẽ luôn ôm vào lòng hình ảnh đất nước hình chữ S. Nhưng tôi cũng sẽ phải hiểu rằng, cùng với hình ảnh lá cờ Tổ Quốc bị đốt cháy, lịch sử không bao giờ khép lại hay sang trang. Người ta chỉ cố tình hay vô ý quên nó đi trong chốc lát mà thôi.


(*) Nhiều người Cam gọi Việt là “youn”, nhưng một số không hiểu nghĩa. Một cách lý giải khác cho từ này là do chiết xuất từ chữ Yueh theo cách người Tàu gọi người Việt.

(**) Con số người Cam chết được trích từ tư liệu của cuốn “Cambodia’s Curse: The Modern History of a Troubled Land” (Lời nguyền của Campuchia: Lịch sử hiện đại của một mảnh đất đầy trắc trở), tác giả Joel Brinkley

(***) Sách tham khảo thì rất rất nhiều. Và đương nhiên khôgn có cuốn nào khách quan tuyệt đối cả. Vấn đề là khách quan đến đâu. Muốn tiến gần đến sự thật do vậy không có cách nào khác là phải tìm đọc từ nhiều nguồn.

Đây là một facebook status nên đương nhiên là không có chức năng đưa đủ thông tin. Đề nghị các bạn đọc và tìm hiểu thêm, rồi TỰ RÚT RA KẾT LUẬN CHO CHÍNH MÌNH.

Tôi xin giới thiệu ở đây một vài cuốn cá nhân tôi cho là có khá nhiều thông tin cho những ai muốn tìm một ý kiến khác, hoặc một ý kiến ngoài cuộc về lịch sử của mối quan hệ Việt Cam. Không nhất thiết phải đồng ý với các tác giả, nhưng đọc để tham khảo, so sánh, và biết các nhà sử học quốc tế nhìn nhận chúng ta như thế nào.

  1. “Why Vietnam Invaded Cambodia: Political Culture and the Causes of War” (Tại sao Việt Nam xâm lược Campuchia – Văn hóa chính trị và nguyên nhân của cuộc chiến), tác giả Stephen J. Morris
  2. Genocide by Proxy: Cambodian Pawn on a Superpower Chessboard (Con tốt đen Campuchia trong ván cờ của các nước lớn), của tác giả Micheal Haas.
  3. A History of Cambodia (Lịch sử Campuchia), của David Chandler
  4. Cambodia’s Curse: The Modern History of a Troubled Land (Lời nguyền của Campuchia: Lịch sử hiện đại của một mảnh đất nhiều thăng trầm), của Joel Brinkley

P/S cho những bạn hay đọc kiểu “đọc một suy luận mười”, bới bèo ra bọ, (không tìm ra bọ thì vẽ ra bọ), nhé! Chán các bạn lắm rồi ạ! Đề nghị các bạn block tôi đi nhé!

  1. Bạn gọi quá trình VN mở rộng xuống phía Nam là gì tùy bạn. Ở post này, tôi chỉ đưa ra hai cách nhìn, một là của lịch sử VN (mở nước). Hai là của người Cam (mất nước). Bản thân tôi chấp nhận cả hai. Quan điểm của tôi là luôn nhìn lịch sử thông qua những mất mát cũng như vinh quang của cả hai phe.

  2. Người Cam đương nhiên biết ơn người Việt, Hun Sen lại càng biết ơn tợn. Thế nên ông ấy mới lên tiếng đính chính là “người Việt không xâm lược Campuchia mà là revive (cứu sống) Campuchia. Không có người Việt, dân Cam chắc không chỉ dừng lại ở con số hơn 2 triệu người chết dưới bàn tay diệt chủng man rợ của Khmer Đỏ.

  3. Tuy nhiên, cùng với sự biết ơn đó là sự oán ghét CHƯA thể nguôi ngoai. Tâm lý người Cam vì vậy rất nhạy cảm, vì họ vừa biết ơn lại mang oán. Thế nên mới có chuyện trong khi chúng ta tưởng họ mang ơn mình thì họ đốt cờ VN. Mối thù này tuy không bùng phát ra ngoài, không phải ai ai cũng mang trong đầu, chỉ một số nhỏ dân chúng bị kích động, nhưng nó là mối thù có thật, và nó được các đảng đối lập lợi dụng triệt để để thu hút phiếu bầu. Post này để cho bạn biết cái gì đang diễn ra, và cá nhân tôi đang cố gắng tìm hiểu tại sao nó lại diễn ra như thế. Đừng có đặt chữ vào mồm tôi, cho là tôi ủng hộ các đường biên quốc gia trên thế giới có thể vẽ lại. Vẽ lại thế quái nào được? Ai mà cũng đòi trả lại đất đai từ xa xưa thì thành Israel-Palestine hết à? Mệt lắm các nhà suy diễn ạ! Đừng có hồ đồ kết luận tôi phản động, vô ơn, về phe nọ phe kia, không tôn trọng xương máu người ngã xuống. Bạn nào mắc lỗi này tôi xin block thẳng luôn. Đơn giản vì bạn không những mắc lỗi suy diễn mà còn vi phạm một trong những nguyên tắc tối thiểu của tranh luận văn minh: chỉ thảo luận về ý kiến chứ không xúc phạm cá nhân người nêu ý kiến.

  4. Vì vậy post này là hành trình cá nhân tôi đi tìm câu hỏi tại sao người Cam mang ơn mà trả oán. Tôi CHƯA bàn đến cuộc chiến ở Cam đúng sai ra sao, liệu việc VN đem quân vào Campuchia và ở lại đó có chính nghĩa hay không, mục đích của post (số 3) là để hiểu TẠI SAO một số người Cam hành động như vậy. Tạm thời có 3 lý do: (1) Di chứng lịch sử từ xưa để lại; (2) Các vấn đề xung quanh Khmer Đỏ và sự can thiệp quân sự cũng như chính trị của VN tại Campuchia; (3) Sự khác biệt về văn hóa giữa hai dân tộc cũng như cung cách làm ăn của một bộ phận người Việt hiện nay tại Cam.

Bạn nào muốn bàn đến cuộc chiến ở Cam đúng sai ra sao, có chính đáng hay không, xin để dành một dịp khác để tôi kịp trích dẫn ý kiến của các nhà nghiên cứu giỏi đã rồi chúng ta bàn luận cũng chưa muôn. Yêu cầu duy nhất là các ý kiến này phải dựa trên chứng cứ khoa học rõ ràng trên các tài liệu của bên thứ ba (không Cam không Việt) để chúng ta có thêm cơ sở tiến gần đến sự thật, bởi đương nhiên, chưa chắc những gì tôi đọc hiểu đã là toàn vẹn. Ở đây, tôi chỉ muốn trả lời câu hỏi TẠI SAO. Và vì muốn biết TAI SAO, chúng ta buộc phải mở lòng đặt mình vào vị thế của người Cam để có thể hiểu được nỗi lòng của họ.

Một số bạn ngang nhiên nói rằng bản chất của người Cam là như thế: họ là lũ VÔ ƠN. Nói thế thì có khác gì những người Trung Quốc mắng VN vô ơn, được TQ giúp cho bao nhiêu đạn dược để đánh nhau mà lại phản bội lại công hàm Phạm Văn Đồng? Có bao nhiêu người TQ có thể ngồi xuống bình tĩnh lắng nghe người Việt giải thích ngọn ngành? Nếu mình không thể làm được thế với Campuchia thì đừng đòi hỏi TQ phải hiểu tại sao VN nổi giận.

  1. Một số bạn bảo sao lại nói ra chuyện này, không có lợi. Tôi cho rằng nhiều người Việt không hể biết một bộ phận dân Cam lại có thể ghét mình đến mức này. Phải lựa chọn giữa hai trường hợp: (1) Sống cạnh một người hàng xóm ghét mình nhưng mình BIẾT TẠI SAO nó ghét mình để mà còn tìm cách hóa giải ân oán, và (2) Sống cạnh một người hàng xóm ghét mình nhưng minh KHÔNG HỀ BIẾT, lại cứ tưởng nó MANG ƠN mình nhiều lắm. Bạn chọn cách nào?

  2. Đừng có đòi tôi phải đưa ra giải pháp. Tôi là dân đen giống như bạn, thấy chuyện thì tri hô lên, cùng lắm là tốn công mày mò thêm để hiểu “tại sao”. Chúng ta trả thuế cho nhà nước làm cái việc “tìm ra giải pháp”. Tôi không phải là nhà nước.

  3. Tuy nhiên, nếu bạn hỏi tôi sẽ làm gì với tư cách cá nhân, thì tôi xin thưa là sẽ gửi tất cả những người bạn Campuchia mình quen biết một lá thư, nói rằng mày biết không, có một ông nhà thơ ở nước tao tên Nguyen Duy nói rằng: “bên nào thắng thì nhân dân cũng bại”. Tao hiểu tại sao mày cáu, tao hiểu tại sao mày ghét người Việt. Tao hứa sẽ tìm hiểu thêm về lịch sử. Chuyện của chính quyền với nhau, xin mày đừng lẫn lộn với chuyện của dân đen.

Các bài báo về chuyện người Cam bài Việt đây nhé! Tôi chọn 4 nhóm llink, để tạo sự khách quan, một nhóm của Cam, nhóm của Việt (hai thứ tiếng của báo Thanh Niên và Dân Trí về vụ bài Việt ở Cam), hai link còn lại của phương Tây, và Al-jazeera được tôi coi như hãng thông tấn có vai trò làm cân bằng cán cân với phương Tây.

Báo chính thống của Campuchia
http://www.cambodiadaily.com/news/khmer-krom-protesters-burn-vietnamese-flag-66356/
http://www.cambodiadaily.com/news/nationalists-renege-on-threat-to-burn-embassy-69225/

Báo nhà mình
http://dantri.com.vn/kieu-bao/mot-nguoi-viet-tai-campuchia-bi-danh-hoi-dong-den-chet-839801.htm
http://www.thanhniennews.com/politics/vietnam-pm-asks-cambodia-to-discourage-antivietnamese-nationalism-30108.html

Hãng thông tấn Al-jazeera
http://www.aljazeera.com/indepth/features/2014/01/cambodia-protests-unmask-anti-vietnam-views-2014122101345786547.html

Hãng thông tấn Reuter
http://www.reuters.com/article/2014/04/29/us-cambodia-racism-idUSBREA3R1CN20140429


Nếu bạn có đủ thời gian, đây là phần dịch của bạn @Khanh Nguyen với bài viết “17/20 người bạn tôi ghét Việt Nam”

‘Trong số 20 người bạn của tôi, đã có đến 17 người ghét người Việt Nam’

Nguồn: Emily Wight, ‘Out of 20 of my friends, 17 hate the Vietnamese’, báo Phnom Penh Post, bản online, ngày 6 tháng 9 năm 2014, http://www.phnompenhpost.com/post-weekend/out-20-my-friends-17-hate-vietnamese

‘Trong số 20 người bạn của tôi, đã có đến 17 người ghét người Việt’ Nam’, đó là cảm nghĩ của bạn Tep Afril, một sinh viên 22 tuổi ngành công nghệ thông tin tại trường đại học Campuchia.

Một người bạn khác cùng nhóm với Tep cũng thừa nhận rằng đã từng nghĩ rằng người Việt Nam ở Campuchia che giấu một ‘mưu đồ bí ẩn’ nào đó.

Những bạn khác cũng đề cập đến một tâm lý chung của nhiều người Campuchia cho rằng những người Việt đang làm việc ở Campuchia với mục đích ‘xâm lược’, giống như cách giới quân sự của họ đã làm vào năm 1979, đẩy lùi quân Khmer Đỏ rồi đóng quân hơn 10 năm.

Afril miêu tả quan điểm của người Campuchia – một quan điểm mà chính Afril cũng không đồng tình – với một thái độ thẳng thắn khác thường đối với một vấn đề vốn rất nhạy cảm. ‘Ở Campuchia, chúng tôi có một ấn tượng không tốt về người Việt Nam.’

Thái độ khoan dung của Afril chính là mục tiêu phấn đấu của chương trình trao đổi văn hoá Sarus, chương trình tổ chức dự án xây dựng kết nối cộng đồng giữa người bản địa và người gốc Việt ở Campuchia.

Vào tháng 7, dự án này đã chào đón 10 sinh viên Việt Nam đến Campuchia đánh dấu 4 năm nỗ lực của chương trình vốn được tài trợ bởi tổ chức xây dựng hoà bình quốc tế Sarus.

Cuộc đối thoại diễn ra trong bối cảnh tâm lý bài trừ Việt Nam lan rộng và có khuynh hướng bạo lực ngày càng cao trong cộng đồng người Campuchia bản xứ.
Vào tháng 2 năm nay, Trần Văn Chiến (hoặc Chiên), một người Campuchia gốc Việt, đã bị đánh chết bởi đám đông ở thủ đô Phnom Penh trong một khung cảnh mà một nhân chứng miêu tả là ‘dân yuon… đánh dân Khmer’ (yuon: là từ lóng dân địa phương dùng để chỉ người Việt)

Vào tháng trước, chính phủ Campuchia vừa triển khai chương trình điều tra dân số, một chương trình mà nhiều người cho rằng nhắm đến người gốc Việt ở Campuchia.Có ít nhất hơn mười trường hợp bị trục xuất khỏi Campuchia.
Trở lại với chương trình trao đổi văn hoá của Sarus, vốn luôn nhấn mạnh việc không có bất kỳ mưu lợi chính trị nào đằng sau hoạt động của tổ chức, nhân viên điều phối Heng Sokchannaroath (gọi tắt là Naroath) cho biết chương trình năm nay đã được thực hiện một cách khác đi.

Trong 3 năm vừa qua, chính các nhân viên của Sarus phụ trách tổ chức các sự kiện; tuy nhiên năm nay, họ đã mời thêm các thành viên tham dự và các thực tập sinh tham gia vào việc quyết định chương trình hoạt động. Tiếp sau 2 tuần của các bạn sinh viên Việt Nam ở Campuchia như thường niên, lần đầu tiên sẽ có 10 bạn sinh viên Khmer đến Việt Nam để tham gia vào các dự án phục vụ cộng đồng như hoạt động trí phòng học ở các làng nghèo khó ở Việt Nam.

Đây là nỗ lực của chương trình nhằm cải thiện những định kiến tiêu cực bằng cách xây dựng thái độ tích cực cho thế hệ trẻ ở cả hai nước, như lời giải thích của Naroath – điều phối viên dự án. Cô cho biết thêm: ‘Các bạn sinh viên sẽ là thế hệ lãnh đạo tương lai của 2 quốc gia, vì thế họ có tiếng nói vô cùng quan trọng. Họ có thể nói chuyện với bạn bè và chia sẻ những trải nghiệm của ho về chương trình.’

Các bạn sinh viên Việt Nam trong chương trình này sẽ có hai tuần ở Campuchia, tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng ở một ngôi làng thuộc tỉnh Kandal vốn có nhiều người gốc Việt và cả dân nhập cư từ Việt Nam sang. Ở đây họ sẽ cùng làm việc với các bạn sinh viên ngừơi Khmer bản xứ.Đối với nhiều người gốc Việt ở Campuchia, cuộc sống là sự đấu tranh sinh tồn từng ngày trong một xã hội vốn không chấp nhận họ. Không quốc tịch đồng nghĩa với việc trẻ em không thể đến trường., còn cha mẹ của các bé thì không thể mua đất mua nhà. Nhiều gia đình sống trên những ngôi nhà nổi ven sông thiếu vệ sinh và ủ nhiều mầm bệnh đặc biệt khi mùa mưa ngập lụt.

‘Nhiều người ở đây không có giấy khai sinh ngay cả khi họ được sinh ra trên đất Campuchia; họ không đến trường; họ không được chính phủ chăm sóc, và thậm chí cộng đồng bản địa cũng chả đoái hoài quan tâm gì đến họ.’. Naroath cho biết và cô hy vọng rằng tổ chức Sarus sẽ có thể giới thiệu chương trình trao đổi tương tự đến người Miến Điện bản địa và người gốc Bangladesh ở Myanmar trong tương lai.’ (*)

(*) Tình huống xung đột tương tự ở Myanmar diễn ra giữa người Miến Điện bản địa và người gốc Bangladesh (còn gọi là nhóm người Rohingya)

Naroath giải thích rằng một phần của mối xung đột nảy sinh từ lich sử chiếm đóng giữa hai dân tộc. Sự hiện diện của quân đội Việt Nam từ năm 1979 đến 1989 vẫn còn hằn lên tâm trí của thế hệ trước. Cô nói thêm: ‘Họ nghĩ rằng người Việt đến đây để cướp công ăn việc làm của họ. Đó là vì yếu tố lịch sử – họ xem đó sự xâm lược đất nước Campuchia của người Việt’

Nhưng cội rễ của xung đột sắc tộc này có nguồn gốc sâu xa hơn thế, về tận thế kỷ 17, khi mà người Việt bắt đầu lấn sang lãnh thổ của người Khmer ở vùng đồng bằng sông Mekong. Vào thế kỷ 19, Việt Nam đã xâm lược Campuchia và thậm chí chiếm đóng cả Phnom Penh dưới triều vua Minh Mạng, vị vua đã cho rằng người Khmer là lạc hậu, điều mà sử gia Joel Brinkley đã ghi nhận lại trong quyển ‘Lời nguyền của Cambodia’ (Cambodia’s Curse).

Chỉ khi vua Norodom ký hiệp định với thực dân Pháp thì Campuchia mới được xem là không còn nằm trong sự kiểm soát của Viêt Nam – dù vẫn dưới quyền Bảo hộ của Pháp, nhiều lao động và nhân viêncôngvụ ở Campuchia lúc bấy giờ đều là người Việt, dẫn đến tâm trạng bất nhẫn trong nội bộ Campuchia.

Khi Việt Nam tiến quân vào Campuchia năm 1979, họ đã đẩy lùi được Khmer Đỏ,một chế độ hà khắc với những chính sách tàn ác đã giết hại gần 1.7 triệu người Campuchia. Nhưng quân Việt Nam đã không được chào đón như những người giải phóng được bao lâu.

Kok-Thay Eng, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Dữ Liệu Campuchia (the Documentation Center of Cambodia – DC-Cam) cho biết: ‘Trong suốt thời kỳ này, Việt Nam đã cố du nhập văn hoá Việt vào Campuchia và vấp phải sự phản đối từ người dân Campuchia.’. Ông cũng bổ sung quan điểm cho rằng việc mất đi lãnh thổ Kampuchea Krom hàng thập kỉ trước đã từ lâu gây nên không ít xung đột giữa 2 dân tộc.

Ngày nay, ông cho rằng, nhiều người Campuchia cảm thấy công việc của họ bị đe doạ bởi những người dân nhập cư Việt Nam. Nhiều người khác thì cho rằng dân nhập cư Việt chịu trách nhiệm về nạn khai thác gỗ lậu và đánh bắt cá tràn lan. ‘Người Campuchia còn cho rằng các công ty Việt Nam tiếp tay với những thương lái và chính trị gia địa phương để khai thác mỏ, đánh bắt cá tràn lan và cưỡm đoạt tiền lợi nhuận từ du lịch của Campuchia’ (**).

(**) lợi nhuận từ du lịch của Campuchia chủ yếu đến từ đền Angkor Wat vốn được quản lý bởi một công ty mà chủ đầu tư được cho là người Việt Nam.

Trọng tâm nỗ lực của tổ chức Sarus để đối trọng lại những thái độ bài trừ Việt Nam trên là sản phẩm từ một nghiên cứu về người Việt Nam ở Campuchia.Những kết luận trên đã được trình bày trong nhiều bài nghiên cứu trong ba năm trở lại đây. Kết quả nghiên cứu năm nay sẽ được trình bày trong một bộ phim tài liệu ngắn trình chiếu trong cuối tháng này. Hầu hết tư liệu hình ảnh trong bộ phim được quay tại một ngôi làng ở tỉnh Kandal, tập trung vào đời sống thường nhật của những người Việt nhập cư và người Campuchia gốc Việt tại đây.

Đạo diễn của bộ phim, Porchhay Seng, 23 tuổi, một sinh viên ngành Nghiên cứu quốc tế tại Học viện Ngoại ngữ, cho biết anh tham gia vào chương trình trao đổi này vì niềm đam mê của anh với phim ngắn và cơ hội làm việc vì cộng đồng.Anh thừa nhận, trước khi tham gia chương trình này, bản thân anh cũng có suy nghĩ rằng những người Việt sang Campuchia với một động cơ m


Đăng trên Facebook của chị Nguyễn Phương Mai, chôm ngày 4/9/2015. Tít tự đặt. Link

 

Advertisements


Leave a comment

Nữ y tá về hưu chọn ‘cái chết êm ái’ vì sợ tuổi già

Hàng chục năm hành nghề giúp nữ y tá người Anh trải nghiệm về cuộc đời và thấu hiểu nguyện vọng bệnh nhân già lão. Ở tuổi 75, không bệnh tật nghiêm trọng, bà vẫn quyết định sang Thụy Sỹ để được hỗ trợ “chết êm ái”.

Bà Gill Pharaoh là một nữ y tá về hưu. Ngày 21/7 vừa qua, bà tới một trung tâm dịch vụ trợ tử tại Thụy Sỹ và kết thúc sự sống. Người bạn đời chung sống suốt 25 năm vẫn ở bên cạnh lúc đôi mắt bà khép lại vĩnh biệt cuộc đời.

Người chồng John Southall cho biết, vợ mình đã nhiều lần đề cập với gia đình và bạn bè về một ngày nào đó sẽ lựa chọn cách chết êm ái. Quyết tâm này nhen nhóm trong lòng bà vì không muốn thấy mình già yếu đi từng ngày và trở thành gánh nặng cho gia đình, con cái.

Nữ y tá về hưu Gill Pharaoh. Ảnh: CBS News

Nữ y tá về hưu Gill Pharaoh. Ảnh: CBS News

Nữ y tá về hưu, người từng viết hai cuốn sách về cách chăm sóc những bệnh nhân cao tuổi, cũng chia sẻ tâm nguyện trên blog cá nhân có tựa “My Last Words” (tạm dịch là “Những lời cuối”). Bà viết:

“Trong suốt thời gian làm nghề, ban đầu là một y tá đa khoa và sau đó làm tại khu vực chăm sóc giảm thiểu đau đớn, tôi thường xuyên gặp những người cảm thấy cuộc đời mình đã trọn vẹn. Họ không còn muốn tiếp tục chiến đấu cho sự sống. Tôi cũng chứng kiến nhiều người giấu kín tâm tư của mình, vì không muốn bị coi là thiếu ý chí.

Có những bệnh nhân đối diện bệnh hiểm nghèo, tính mạng bị đe dọa. Họ liên tục nghe những lời khuyên hãy kiên cường chiến đấu trong khi thực sự nhiều người trong số họ đã sẵn sàng từ bỏ. Rồi sau đó, khi người thân của bệnh nhân bảo rằng họ đã chiến đấu dũng cảm, bản năng của tôi mách bảo rằng bệnh nhân chỉ chiến đấu để được ra đi một cách thanh thản mà thôi”.

Trong bức tâm thư, nữ y tá cho biết mình vẫn còn khá hoạt bát và khỏe mạnh dù đã bước sang tuổi thất tuần. Song, căn bệnh zona, một chứng tổn thương da, khiến nhiều việc thay đổi. Bà không thể thực hiện những công việc yêu thích như làm vườn hay nấu nướng giống trước kia. Chứng ù tai cũng khiến bà cảm thấy phát điên. Tuy nhiên, nữ y tá cho rằng những chứng bệnh ấy không có gì đáng kể và khẳng định mình không hề trầm cảm vì bệnh tật.

“Tôi cảm thấy cuộc đời mình đã trọn vẹn và tôi sẵn sàng được chết. Gia đình tôi vẫn ổn và hạnh phúc, mọi người có cuộc sống đủ đầy và bận rộn. Bây giờ tôi không thể đi những chặng đường dài, những giờ phút vui vẻ khám phá các con đường của thành phố London, do vậy, chỉ còn là ký ức.

Đơn giản là tôi không muốn tuân theo quy luật già lão của tạo hóa cho tới những ngày cuối cùng, khi chắc chắn tôi sẽ cần rất nhiều giúp đỡ. Tôi cần phải hành động sớm vì không ai có thể thay tôi làm điều đó. Suy nghĩ rằng mình sẽ phải cậy nhờ những đứa con khiến tôi hoảng sợ.

Tôi muốn mọi người nhớ đến mình như bây giờ, dù đây không phải là thời kỳ đỉnh cao, nhưng ít ra tôi vẫn còn là chính mình. Tôi mong gia đình, bạn bè và cả những người xa lạ biết được dự định của tôi sẽ ủng hộ quyết định này mà không phán xét gì. Tôi hiểu sẽ có những phản ứng khác nhau về lựa chọn mình đưa ra, nhưng tôi tin rằng những ai thương mến mình sẽ thực sự vui mừng vì biết tôi đã tránh được tuổi già mà từ xưa đến nay tôi luôn e ngại và lo sợ”, bà viết.

Những lời cuối trong bức tâm thư, bà Pharaoh cũng kêu gọi chính phủ Anh nhanh chóng hợp pháp hóa “cái chết nhân đạo” cho những ai mong muốn. Người phụ nữ tìm tới cái chết êm ái nhấn mạnh, bản thân không khuyến khích hành động này vì điều sai trái.

Quyết định dứt khoát và xúc động của bà đã gây nhiều phản ứng trái chiều trong dư luận nước Anh, vốn đang có nhiều tranh luận xung quanh dự thảo luật về “cái chết êm ái”. Những người ủng hộ cho rằng quyết định đặt dấu chấm hết cho cuộc đời là quyền tự do của con người cần được tôn trọng. Trong khi đó, bên phản đối lo ngại rằng cho phép trợ tử sẽ dẫn tới những hành động bắt nguồn từ lý do sai trái.

Phát ngôn viên của Care Not Killing, một tổ chức phản đối trợ giúp thực hiện cái chết không đau đớn cho người mắc bệnh nan y phát biểu trên Sunday Times: “Đây là một trường hợp đáng lo ngại. Nó cũng gửi tới thông điệp đau lòng về vấn nạn chăm sóc người cao tuổi tại Anh”.

“Nhiều người cho rằng Pharaoh sai lầm khi muốn trốn tránh tuổi già, nhưng bà ấy đã chứng kiến quá nhiều đau đớn với vai trò một y tá. Bà ấy đã quyết định một cách lý trí khi muốn có cái chết không đau đớn và được bác sĩ trợ giúp”, bác sĩ Micheal Irwin, người giúp bà Pharaoh thực hiện dự định của mình chia sẻ.

Thụy Sỹ là quốc gia coi quyền được chết là một trong những quyền nhân đạo. Trợ tử là hành động được luật pháp nước này công nhận. Điều này đã tạo ra “ngành du lịch trợ tử” khiến chính phủ Thụy Sỹ phải tìm nhiều biện pháp đối phó, khi hàng trăm người ngoại quốc mỗi năm tìm đến đây để được trợ giúp kết thúc cuộc đời một cách không đau đớn.

Khánh Hà (Theo CBS News)

http://suckhoe.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/nu-y-ta-ve-huu-chon-cai-chet-em-ai-vi-so-tuoi-gia-3260701.html


Leave a comment

Chiếc bè của chiến thuyền Méduse

“Chiếc bè đã đưa những kẻ sống sót tới giới hạn trải nghiệm của con người”

Nghiên Cứu Lịch Sử

radeaumeduse

Phạm Việt Hưng

“Chiếc bè đã đưa những kẻ sống sót tới giới hạn trải nghiệm của con người”
—Jonathan Miles

Vụ đắm con tầu Méduse cách đây gần 2 thế kỷ là một sự kiện vô cùng thương tâm, bi thảm, khủng khiếp và rùng rợn, hoàn toàn do tội của con người gây ra. Tội lỗi ấy có thể đã được che đậy vĩnh viễn trong bóng tối nếu nó không bị phơi bầy ra giữa thanh thiên bạch nhật bởi tác phẩm hội hoạ “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse” (Le Radeau de la Méduse/The Raft of the Medusa) của Théodore Géricault – một bức tranh làm người xem kinh hãi, xôn xao bàn tán về sự thật đằng sau nó, những kẻ chịu trách nhiệm bị nguyền rủa, sự phẫn nộ bùng nổ thành một vụ “scandal” chấn động nước Pháp và thế giới…

View original post 5,684 more words


Leave a comment

Mục tiêu đào tạo tiến sĩ: Xưa và Nay

Tiến cử, gồm “tiến” và “cử” là hai mức tôn vinh khác nhau. Nước ta chưa có chữ, do vậy “người được cử” (tiếng Việt) nếu gọi theo chữ Hán (để có thể ghi vào văn bản, sổ sách) sẽ là Cử Nhân – đã đủ vinh dự. Cử nhân, nếu xuất sắc, còn được tiến dẫn lên tận vua, do vậy danh xưng phải khác. Thế là, “cử” được thay bằng “tiến” (để thêm trang trọng); và “nhân” được thay bằng “sĩ” (để tăng tôn vinh). Đó là xuất xứ của từ ngữ Tiến Sĩ và Cử Nhân, được dùng tới nay.

Nghiên Cứu Lịch Sử

Một đám rước vinh quy bái tổ (Lều chõng ngày xưa)Một đám rước vinh quy bái tổ (Lều chõng ngày xưa)

Nguyễn Ngọc Lanh

Vài lời ngoài bài

Cảm hứng để viết bài này là một tin thời sự hôm nay (02-7-2015) trên báo Vietnamnet, nói rằng Cán bộ Hà Nội có hơn 4.000 tiến sĩ, thạc sĩ. Có thể hiểu: Trong số cán bộ của Hà Nội đang có 4.000 người vốn được đào tạo để làm nghề nghiên cứu khoa học, nay bỏ nghề, để làm nghề khác – chẳng liên quan gì tới mục tiêu đào tạo. Tiến sĩ được đào tạo để nghiên cứu khoa học, diễn viên được đào tạo để biểu diễn trên sân khấu. Thợ nề thì xây tường. Phi công thì lái máy bay… Câu hỏi: Nếu các đối tượng này khi ra trường lại làm “cán bộ” thì sẽ ra sao?

Để trả lời, xin so sánh…

View original post 3,762 more words


Leave a comment

​Hai người đàn ông và một đứa trẻ

Cuộc sống vốn trúc trắc khó lường nên những bi kịch như thế này vẫn thường xảy ra. Nhưng có lẽ những người trong cuộc, và ngay cả hệ thống tư pháp, nên có những lựa chọn thích đáng hơn về cách xử sự để giảm thiểu rắc rối, hướng đến một đoạn kết nhân văn và hợp lẽ hơn.

Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần

Vợ vừa mồ yên mả đẹp chưa được bao ngày, anh Đ.V.L. được người đàn ông tên là N.P.V. (49 tuổi, ngụ Q.2, TP.HCM) từng làm trong cửa hàng kinh doanh của mình mời đi uống cà phê. Ly cà phê chưa kịp uống xong, người đàn ông đó cất lời: “Đứa trẻ do vợ anh sinh ra là con tôi!”.

Sau câu nói đó là câu chuyện tranh chấp pháp lý liên quan đến yêu cầu xác định cha con kéo dài từ năm 2013 đến nay vẫn chưa ngã ngũ.

Tôi quá bàng hoàng

Người đàn ông tên là Đ.V.L. nói anh và người vợ đã qua đời yêu thương nhau nhất mực, anh chưa bao giờ mảy may nghi ngờ về tình cảm hay lòng chung thủy của vợ – người cùng anh từ quê ra thành phố học hành, lập nghiệp.

“Chúng tôi chung lưng đấu cật vượt qua từ khó khăn này đến khó khăn khác để mở được hai cửa hàng kinh doanh. Rồi vợ tôi sinh cho tôi một cô con gái kháu khỉnh. Công việc làm ăn đang tốt thì vợ tôi đổ bệnh, từ khi phát hiện đến khi cô ấy mất chỉ vài tháng.

Chỉ vài tháng sau đó, người làm công trong cửa hàng nói rằng con tôi là con ruột của anh ta” – anh L. kể về những rắc rối phát sinh với mình. “Tôi chịu đựng sự khủng hoảng, hai cửa hàng giờ chỉ còn một, một mình tôi vừa chăm con vừa lo cho cửa hàng.

Sau đó, anh V. khởi kiện, yêu cầu tôi trả quyền nuôi dưỡng, chăm sóc đứa bé cho anh ta. Anh ấy vốn được vợ chồng tôi trả lương để làm việc ở cửa hàng, trong quan hệ hằng ngày không có gì bất thường khiến tôi đặt dấu hỏi hay sự nghi ngờ về lòng chung thủy của vợ tôi” – anh L. kể.

Nén xúc động, anh L. kể tiếp: “Khi V. nói điều đó với tôi, bé N. (con gái tôi) mới 2 tuổi. Một đứa bé vừa mất mẹ, còn chưa ý thức được nỗi mất mát lớn lao ấy nên tôi vừa làm cha, vừa làm mẹ bù đắp tình cảm thiếu thốn cho con, chăm sóc nuôi dưỡng cháu.

Nghe những lời thốt ra từ miệng V., tôi đứng dậy bỏ đi, vì nếu tôi không kiềm chế, sợ rằng đã có điều gì đó không hay xảy ra. Sau khi đưa ra yêu cầu trả con nhưng không được tôi đáp lại, V. đưa đơn ra tòa, yêu cầu tòa tuyên bé N. là con ruột của V. và yêu cầu tôi phải giao bé N. cho anh ta chăm sóc.

Đến nay, gần hai năm vụ kiện diễn ra, không biết bao nhiêu lần tôi bị tòa mời lên làm việc, phiền phức vô cùng, trong khi vẫn một mình chăm con, vẫn phải lao động kiếm tiền nuôi cháu.

Trong một lần hòa giải tại tòa, tôi nói với V., nếu thật sự yêu thương đứa bé, anh có thể đến thăm, cùng tôi chăm sóc và nuôi cháu trưởng thành, khi bé lớn, có đủ nhận thức thì cháu sẽ tự biết nhận ai là cha ruột. Nhưng V. không chịu, cương quyết kiện đến cùng, rồi tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) đối với tôi, buộc tôi phải đưa con đi lấy mẫu giám định ADN”.

Tôi rất xót xa

Ông N.P.V., nguyên đơn của vụ kiện, cho biết ông làm việc cùng chị P. trong chuyện kinh doanh, vợ chồng chị P. là người trả lương tháng cho ông. “Chúng tôi quý mến và thân thiết với nhau, nhiều chuyện vui buồn P. đều kể với tôi hết.

Tuy nhiên, sau đó chúng tôi đi quá giới hạn của bạn bè”. V. cho biết trước khi qua đời, chị P. có đưa cho ông giấy khai sinh của bé và bảo ông mang đi xét nghiệm ADN: “Dù cô ấy không nói với tôi đó là con tôi nhưng với việc yêu cầu tôi đi xét nghiệm ADN, tôi hiểu cô ấy muốn nói gì”.

Ông V. cho biết khoảng tháng 9-2012, ông tự lấy mẫu tế bào của bé N. và chính mình đi xét nghiệm ADN, kết quả tương thích đến 99,99%. “Tôi rất xúc động với điều này, bởi tình cảm thiêng liêng cha và con, tôi đã nói với P. về kết quả, cô ấy dặn tôi hãy chăm sóc và nuôi dưỡng đứa trẻ với trách nhiệm của người cha” – ông V. kể.

“Tôi rất xót xa khi không được trực tiếp chăm sóc và yêu thương, dạy dỗ cháu nên đề nghị L. giao lại đứa bé cho tôi. Nhưng vừa nghe tôi nói xong, L. đứng phắt lên bỏ đi. Từ đó tôi không thể tiếp xúc với L. cũng như với bé N.. Hằng ngày tôi chỉ được quan sát bé N. từ xa bằng cách đi theo người chở cháu từ trường học về nhà hoặc ngược lại. Nhiều hôm đi gần con, muốn được ôm con mà không được, tôi đau xót lắm” – ông V. kể.

“Mong muốn lớn nhất của tôi bây giờ là được gần gũi chăm sóc bé. Từ ngày khởi kiện L. đến nay cũng đã gần hai năm, cũng không biết đến khi nào thì vụ kiện mới xong” – ông V. nói và khẳng định nếu được giao quyền nuôi con, ông tự tin mình hoàn toàn có thể chăm sóc cho bé N. tốt nhất.

Tòa đã làm gì?

Tháng 10-2013, ông N.P.V. gửi đơn lên TAND Q.4 yêu cầu xác định cháu N. (sinh năm 2010) là con ruột của ông, kèm đơn là biên bản giám định ADN (do một trung tâm phân tích ADN xác nhận) xác định ông V. và bé N. là cha con. Tòa xác định đây là vụ án dân sự hôn nhân và gia đình “xác định cha cho con” đồng thời xác định ông Đ.V.L. (40 tuổi, ngụ Q.4), hiện là cha hợp pháp của cháu N., là bị đơn.

Tháng 1-2014, TAND Q.4 căn cứ điều 115 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định áp dụng BPKCTT buộc ông L. đưa cháu N. đến Phân viện Khoa học hình sự (Bộ Công an) tại TP.HCM để lấy mẫu giám định ADN. Tuy nhiên, ông L. không chấp nhận đưa bé N. đi lấy mẫu xét nghiệm.

Tháng 4-2014, Chi cục Thi hành án dân sự Q.4 ra quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng vẫn không thi hành được. Ngày 1-6-2015, TAND Q.4 ra quyết định hủy bỏ BPKCTT. Song ngày 2-6-2015, TAND Q.4 tiếp tục ra quyết định áp dụng BPKCTT mới, buộc ông L. phải đưa bé N. đến Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế TP.HCM để cung cấp mẫu vật tiến hành giám định ADN.

Ngày 15-6-2015, tòa này cũng ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện để chờ kết quả giám định ADN của bé N. và ông V..

Góc nhìn của các luật sư

Theo ông Phạm Công Hùng – nguyên thẩm phán TAND tối cao, trong vụ kiện “xác định cha cho con” này, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông V. cho thấy về mặt tố tụng, TAND Q.4 đã xác định sai bản chất của vụ kiện và xác định sai đối tượng kiện.

Đơn khởi kiện của ông V. gồm hai yêu cầu: công nhận là cha con giữa ông V. và cháu N., yêu cầu tòa giao quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu bé cho ông. Tuy nhiên, trên giấy khai sinh của cháu bé, tên cha là ông L., mà hôn nhân của ông L. và mẹ cháu bé là hợp pháp.

Như vậy, dựa vào yêu cầu khởi kiện của ông V., yêu cầu xác định bé N. là con mình, bản chất thật sự của vụ án này là “xác định con cho cha mẹ”. Vấn đề này trong Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định tại khoản 1 điều 64, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định tại khoản 1 điều 89: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu tòa án xác định người đó là con mình”.

Do đó, đối tượng để ông V. “kiện” ở đây chính là đứa trẻ chứ không phải là ông L.. Tuy nhiên, do đứa trẻ còn quá nhỏ nên không thể tham gia vụ kiện, bé cũng chưa thể “từ chối” hay “nhận” cha theo yêu cầu của ông V.. Đứa trẻ và người giám hộ của cháu (ông L.) không yêu cầu xác định cha cho bé, nên việc tòa dựa vào đơn của ông V. và xác định ông L. là bị đơn là sai đối tượng bị kiện.

Và xét về bản chất vụ tranh chấp, do đây là án dân sự, nguyên tắc người khởi kiện (tức là ông V.) phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, không thể buộc người khác cung cấp chứng cứ.

Ông Hùng cho rằng về góc độ xã hội, những vụ kiện như thế này không chỉ khiến một gia đình mà có thể có nhiều gia đình lâm vào bi kịch, gây chia rẽ và mất mát tình cảm nghiêm trọng nếu các bên không tìm được giải pháp ngoài tòa án mà xử sự với nhau cho thấu tình đạt lý.

Còn theo TS Lê Minh Hùng – khoa dân sự Trường đại học Luật TP.HCM, trong vụ việc này có hai vấn đề xung đột với nhau: quyền được yêu cầu tòa án xác định con cho mình của ông V. và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của bé N. – thuộc nhóm quyền nhân thân đã được Hiến pháp và luật bảo vệ.

Đối với quyền yêu cầu tòa xác định con cho mình, ông V. có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng chứng minh mình là cha, ông L. không có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng. Việc tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu ông L. phải cung cấp mẫu để giám định ADN là vi phạm quyền nhân thân của bé N..

Hành vi cưỡng chế một đứa trẻ để lấy mẫu giám định gây hoang mang và làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của trẻ sau này. Trong trường hợp này, ông L. đang là cha hợp pháp của trẻ, nên ông có nghĩa vụ bảo vệ quyền nhân thân và quyền bất khả xâm phạm đối với thân thể của bé N..

“Xét về bản chất, đây là vụ án “truy nhận con”. Bộ luật dân sự (điều 43 về quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con, khoản 1) quy định: Người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là con của người đó”.

Như vậy, việc ông V. gửi đơn đến tòa án để nhờ giải quyết, xác định bé gái N. là con của mình là thực hiện “quyền” của ông. Vì vậy mà tòa quận 4 đã thụ lý.

Nhưng về mặt tố tụng, do đây là vụ án dân sự nên nguyên tắc chung là nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự: ông V. phải có chứng cứ chứng minh cháu bé là con của mình thì mới được tòa công nhận cháu là con ông V..

Hiện nay, chứng cứ để xác định quan hệ huyết thống cha – con chính xác nhất có lẽ là kết quả giám định ADN. Nên ông V. phải có được chứng cứ này cung cấp cho tòa, muốn vậy ông V. phải có được “mẫu vật” lấy từ cơ thể cháu bé (máu, tóc…).

Theo hồ sơ, ông V. đã cung cấp một bản kết quả giám định ADN nhưng đây là chứng cứ do ông tự đi giám định nên “không có giá trị tố tụng”. Do vậy, để kết quả giám định được sử dụng làm chứng cứ phải có quyết định trưng cầu giám định của tòa án.

Luật cũng quy định trong trường hợp đương sự không thể có được chứng cứ thì có quyền yêu cầu tòa thu thập giúp. Theo đó, tòa sẽ ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ – gửi cá nhân, tổ chức đang giữ chứng cứ đó. Đến đây, tòa đã làm đúng.

Nhưng việc tòa áp dụng “biện pháp khẩn cấp tạm thời” là sai, do trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà luật quy định, không có chuyện phải giao một “mẫu vật” trên cơ thể người, chưa kể đây là thân thể của một cháu bé, việc “cưỡng chế” hay “ép buộc” đều không đúng luật. Đây là vụ án dân sự chứ không phải hình sự.

Tuy nhiên, dù đau lòng hay tức giận, người lớn cũng cần có trách nhiệm hợp tác xác định sự thật cháu bé là con ai. Vấn đề là ở sự lựa chọn thời điểm, có thể đợi khi cháu N. đã trưởng thành, tránh tổn thương, gây hại cho cháu. Bởi vấn đề này thuộc phạm trù đạo đức hơn là pháp luật.

LS Trần Hồng Phong

HOÀNG ĐIỆP


Leave a comment

Núi xanh nay vẫn đó (biên khảo lịch sử)

Nghiên Cứu Lịch Sử

nui-xanh-nay-van-do

Tác giả: Nguyễn Duy Chính

MỞ ĐẦU

Thanh sơn y cựu tại

Kỷ độ tịch dương hồng1

青山依舊 在

幾度夕 陽紅

Núi xanh như cũ còn đây,

Chiều buông ráng đỏ đã thay bao lần.

Nhìn vào cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt Nam, những vương quốc bị xâm lấn không hẳn đã vì kém văn minh, mà trái lại có những thời đại huy hoàng sớm sủa hơn chúng ta nhiều. Những công trình gần đây nghiên cứu về người Chiêm Thành (Chăm) và người Chân Lạp (Khmer) đã chứng tỏ điều đó.

Riêng về người Chăm, những di tích của vương quốc này cho thấy họ đã hình thành được một xã hội qui mô khá sớm sủa. Vào thế kỷ 17, 18 khi quốc sử coi như đã đặt một dấu chấm hết cho vương quốc Chiêm Thành thì trong các tài liệu của những nhà…

View original post 18,578 more words


Leave a comment

Ghép đầu: tại sao không?

Từ khi cái tên Valery Spiridonov được công bố như ứng viên tự nguyện cho ca ghép đầu người đầu tiên trên thế giới của bác sĩ Ý Sergio Canavero, tranh cãi bùng lên. Đã có chỉ trích Tiến sĩ Ý Sergio Canavero là “bác sĩ điên”, một “Frankenstein”hiện đại. Trang web tương lai học motherboard.vice.com đã phỏng vấn cả bệnh nhân lẫn bác sĩ của “ca phẫu thuật lịch sử” này.

Bệnh nhân: “Hy vọng một cơ sở khoa học lớn”

Valery, tại sao anh quyết định công khai về mình? Lẽ ra anh có thể giữ bí mật nếu anh muốn…

Valery Spiridonov. Ảnh: Tass

Đây là một thí nghiệm quy mô rất lớn, giống như người đầu tiên vào vũ trụ, người đầu tiên lên Mặt trăng hay tương tự vậy. Đây là một đột phá trong khoa học, công nghệ và sinh học. Chúng tôi không thể giữ bí mật bởi mọi người cần phải biết điều gì đang diễn ra và những cơ hội nào sẽ đến. Tôi phải kể cho mọi người nghe về những loại phẫu thuật mà hàng trăm nghìn người khác trong những điều kiện tồi tệ hơn tôi, cần tới.

Ca phẫu thuật được xếp lịch tới hai năm sau. Anh có cần chuẩn bị gì không?

Hôm nay tôi không làm gì đặc biệt. Tôi nói chuyện với mọi người, mô tả những gì sẽ diễn ra. Tôi cho họ thấy những cơ hội hạn chế của những người như tôi. Tôi cho họ thấy tôi cảm thấy thế nào với cơ thể yếu bệnh của mình. Những người như tôi cần rất nhiều sự chú ý, hỗ trợ, giúp đỡ từ người khác. Chúng tôi lệ thuộc vào người thân rất nhiều. Điều đó rất nặng nề. Mọi người cần biết chuyện đó…

Tôi và Canavero đang chuẩn bị cho một hội nghị của những nhà thần kinh học nổi tiếng nhất ở Annapolis (Maryland) hè này. Ông ấy sẽ có bài giới thiệu và tiết lộ một số bí mật. Ông ấy muốn tôi có ở đó. Tôi đang tìm kiếm sự hỗ trợ và những mạnh thường quân giúp tôi tới Mỹ. Tôi là nhà thảo chương, có công việc, kiếm sống được. Nhưng đó là việc độ nhật, còn đi Mỹ là chuyện khó khăn với tôi vì tôi phải trả tiền vé cho tôi và cho bạn tôi, người giúp tôi di chuyển.

Cuộc sống của anh trước đây như thế nào?

Tôi làm cho các công ty viết những phần mềm giáo dục, chương trình cho các trường học và trẻ em. Tôi cũng làm những đồ họa 3D cơ bản ở đây. Tôi làm việc chủ yếu qua internet. Tôi dậy vào 9 giờ sáng mỗi ngày. Người láng giềng giúp tôi rời giường vì tôi không thể tự làm điều đó. Tôi làm việc cả ngày vì không thích phí thời gian vào những chuyện không quan trọng. Tôi không xem tivi nhiều, không xem phim nhiều, tôi thích làm việc, thích tạo ra cái gì đó tốt đẹp. Mẹ tôi nấu ăn, giúp tôi cả ngày.

Thủ thuật Gemini – với sự tham gia của 150 bác sĩ và kéo dài 36 giờ – liên quan đến việc nối khối dây thần kinh nằm trong xương sống. Ảnh: mediacalnewstoday.com

Nó luôn là như thế? Tình trạng của anh đang thoái hóa, trước đây có tốt hơn không?

Tôi không thể đi từ hồi một tuổi, lúc còn bé xíu. Tôi không hề nhớ mình từng đi đứng thế nào. Nhưng tôi không có những suy nghĩ buồn bã, tôi đã quen sống thế này và cảm thấy ổn. Tôi không thường đi bác sĩ. Dẫu sao họ cũng không giúp gì được vì bệnh này không thể chữa.

Anh có hiểu được khoa học đằng sau ca phẫu thuật? Anh có hiểu chuyện sắp xảy ra không?

Tôi không phải bác sĩ, không học ngành y. Tôi là kỹ sư, tôi chỉ hiểu những gì kỹ thuật, nhưng tôi hoàn toàn tin tưởng Canavero.

Anh không lo lắng à?

Tôi không lo gì cả. Ai đó phải là người đầu tiên. Ai đó cần đi xa hơn, tới nơi chưa từng ai tới. Nhà du hành vũ trụ đầu tiên từng sợ, tôi chắc vậy. Tôi cũng sợ, chắc rồi, nhưng tôi hiểu chuyện này phải được thực hiện, bởi nếu anh không thử thì nó chẳng bao giờ xảy ra.

Anh đang chờ đợi điều gì? Anh muốn làm gì trong một cơ thể mới?

Sau ca phẫu thuật, dù tôi sống hay chết, liệu tôi có thể đi hay không thì dẫu sao nó cũng đã diễn ra, sẽ có một cơ sở khoa học lớn khi đó. Người ta sẽ biết làm những việc phức tạp này như thế nào và nó sẽ giúp những thế hệ tương lai. Cho nên nó hoàn toàn xứng đáng.

Anh thường nói chuyện với Canavero không?

Chúng tôi trò chuyện một hay hai lần/ tuần. Chia sẻ thông tin và lên kế hoạch cho hội nghị, và những chuyện tương tự. Chúng tôi nói chuyện qua Skype và email nên tuy tôi không gặp trực tiếp ông ấy, nhưng ông ấy hiểu thấu đáo bệnh tình của tôi.

Chắc anh phải nghe vài thứ người ta nói về chuyện này trên truyền thông, và những bác sĩ khác bảo chuyện này sẽ không thành công.

Tôi vui vẻ đọc chúng. Tôi đọc các bình luận, đa phần là tốt, mọi người chúc tôi may mắn. Họ hiểu tại sao tôi cần chuyện này, tôi vui vì đa số ủng hộ.

Tôi hiểu các nguy cơ của ca phẫu thuật. Chắc chắn rồi, không ai làm chuyện này trước đây và không ai có công nghệ nối dây thần kinh ngoài Canavero. Họ đúng khi hoài nghi, nhưng tôi hi vọng bác sĩ (Canavero) sẽ chia sẻ một số bí mật của ông ấy mùa hè này.

Bác sĩ: “Tôi thuộc loài những nhà phẫu thuật thần kinh khác”

Giữa thế kỷ 20, Tiến sĩ Robert White thực hiện cấy ghép đầu trên khỉ và đã không thành công. Có gì khác với ca của ông?

Tiến sĩ, bác sĩ phẫu thuật thần kinh Sergio Canavero. Nguồn RFI

Những gì anh đề cập không phải là thủ thuật Gemini (tên phương pháp phẫu thuật mà bác sĩ Canavero sẽ thực hiện – HT)… Thủ thuật này có thể thực hiện vào thời bác sĩ White. Vấn đề ở chỗ ông ấy không phải là một nhà phẫu thuật thần kinh chức năng. Khả năng nối những dây (thần kinh) bị cắt đứt cũng đã có từ năm 1986… và nếu bác sĩ White còn sống, chính ông ấy sẽ làm điều đó, khi đó thì tôi không có ở đây và anh cũng không ở đây nói chuyện với tôi. Vấn đề là ông ta là một nhà “phẫu thuật thần kinh dịu dàng” (gentle neurosurgeon), còn tôi thuộc loài những nhà phẫu thuật thần kinh khác.

Ông đã được gọi bằng nhiều thứ (tên) sau khi công bố việc này.

Tôi đang viết một bảng trả lời về những vấn đề đạo đức. Đây là vấn đề tôi thấy mình phải giải quyết: đạo đức. Tôi rất vui vì Valery lộ diện và thông báo (tình nguyện tham gia phẫu thuật ghép đầu)… Nếu các bạn muốn hiểu vì sao chúng tôi làm điều đó, hãy đi tới bất cứ bệnh viện nào và tìm ở đó những người mắc bệnh giống Valery. Bạn sẽ thấy những con người đó 24 giờ ngồi trên xe lăn, khi họ tiểu tiện phải có người tới giúp… Hãy nói chuyện với những người bị những căn bệnh ác liệt này hành hạ.

Ai sẽ trả tiền cho việc này?

Tôi có một thư mục với đầy đủ email của những người muốn được phẫu thuật. Tại Anapolis (ở hội nghị mà Canavero dự kiến công bố về ca phẫu thuật vào tháng Sáu năm nay), tôi sẽ kêu gọi Bill Gates, Mark Zuckerberg và những người tương tự ký sec để khiến điều đó xảy ra. Anh có thể viết: Tôi yêu cầu Bill Gates tài trợ ca phẫu thuật này.

Ông có vẻ tự tin.

Một chuyện khác nữa là nhà thờ Chính thống giáo của Nga vừa mới la ó rằng nếu Valery nhận ca mổ này, anh ấy sẽ hòa trộn linh hồn mình với linh hồn người khác. Đây là chuyện quan trọng, là ý nghĩa thật sự của phẫu thuật này: đập tan tôn giáo. Nếu chúng tôi làm việc này và nếu mọi chuyện diễn ra không theo cách các tôn giáo chờ đợi, họ sẽ thực sự khó khăn: có nghĩa chúng tôi chứng minh về mặt khoa học là quan điểm của họ sai.

Ông đề cập đến chuyện kéo dài cuộc sống, và tôi biết đây là một phần của việc này. Ông có muốn cấy ghép đầu người vào những cơ thể nhân tạo? Có phải đây là việc mà chuyện này sẽ nhắm tới, thí dụ, sau 100 năm nữa?

Có sai lầm ở đây. Anh nói 100 năm. Không, chúng ta đang nói về 20, 30 năm. Một khung thời gian ngắn hơn… Anh sẽ không cần 150 người, nó sẽ không kéo dài 36 giờ, mà sẽ được thực hiện ở bệnh viện gần nhà.

Sinh sản vô tính hiện chưa thể thực hiện trên qui mô lớn, và các dòng vô tính chết rất nhanh, chúng rất dễ bệnh hoạn, và bạn chưa muốn thực hiện nhân bản con người.

Nhưng hãy tưởng tượng tương lai. Cấy ghép đầu trở nên khả thi. Những tử cung nhân tạo sẽ được phát triển và hoàn thiện. Lúc đầu, nó sẽ giúp những ai có hoàn cảnh khủng khiếp. Sau đó khi nhân bản trở nên khả thi, nó sẽ thay đổi vĩnh viễn lịch sử nhân loại. Anh, và tôi, vâng, hi vọng cả tôi nữa, sẽ có một cơ thể mới. Tới tuổi 60, bạn bắt đầu nhân bản chính mình và sẽ tốt như mới!

Bác sĩ Canavero ước tính chi phí cho ca phẫu thuật lịch sử này là 13 triệu USD, với một êkíp 150 bác sĩ thực hiện ca mổ cấy ghép dài 36 giờ. Trong ca phẫu thuật dự kiến, hai người (một với đầu hoạt động tốt nhưng cơ thể không khỏe mạnh, và người thứ hai chết não nhưng cơ thể vẫn còn hoạt động) sẽ bị chặt đầu cùng lúc, rồi đầu người có cơ thể ốm yếu sẽ được ghép vào cơ thể đã chết não bằng chất Poly-ethylene glycol. Hunt Batjer, tân chủ tịch Hiệp hội Các nhà phẫu thuật thần kinh Mỹ cảnh báo Spiridonov có thể đối mặt với số phận “tệ hơn là chết” bởi vì nếu mọi thứ không đúng như mong muốn, Spiridonov không còn thở tự nhiên được nữa. Batjer cũng nhắc rằng còn một bước rất lớn từ việc não sống sót sau cuộc phẫu thuật đến việc phục hồi chức năng cơ thể, điều Canavero vẫn chưa nhìn tới. (theo CNN) 

Hằng Thu

(Theo motherboard.vice.com, CNN, medicalnewstoday.com)

http://www.nguoidothi.vn/vn/news/vui-song/cau-chuyen-bac-si/4513/ghep-dau-tai-sao-khong-.ndt


Leave a comment

Mối thù của nhà Tây Sơn và vua Gia Long: chuyện đời vay trả

Nghiên Cứu Lịch Sử

Hiển Lâm Các Hiển Lâm Các

Võ Hương An

Lời người viết: Mùa Vu lan năm Canh dần 2010, tự nhiên tôi nhận được nhiều email của thân hữu gởi đến – có ngày nhận hai ba cái — kèm theo truyện ngắn “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, viết về sự tàn ác và hèn hạ của vua Gia Long trong việc hành hình vợ chồng Trần Quang Diệu & Bùi Thị Xuân — hai dũng tướng của Tây Sơn — và gia đình (mẹ già và con gái). Nội dung của các điện thư hoặc có ý hỏi tôi sự thật có đúng như vậy không, hoặc tỏ ra đồng ý với tác giả,

View original post 6,572 more words


Leave a comment

Khí công – Sự thật và những điều ngộ nhận

Tôi là người tập khí công từ nhỏ, với mục đích trị bệnh hen suyễn và đã khỏi hoàn toàn. Phương pháp này tôi học của một người quen với ông nội tôi, tôi gọi bằng chú. Chú không nhận làm thầy tôi, và không muốn nói tên, nên tôi không nói, chứ không phải chối bỏ nguồn gốc.

Thời gian gần đây, tôi nhận ra nếu không nói rõ bản chất của khí công, thì người bình thường sẽ nhắm mắt chối bỏ nó một cách mù quáng, bỏ qua một phương pháp duy trì sức khoẻ một cách hiệu quả, bồi đắp đến tận gốc rễ của cơ thể.

Vì thế, tôi viết bài này nhằm mục đích giải thích trực tiếp thông qua kinh nghiệm tu tập bản thân. Hy vọng những bạn đọc có quan tâm đến vấn đề này sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về bản chất của khí công và việc tập khí công.

Đây là bài giải thích sơ lược về bản chất của khí công, chứ không nói về phương pháp tập.

I. Một vài điều cơ bản về khí công

Bài tập khí công sơ cấp thực ra rất đơn giản, sách vở và phim ảnh nói đầy rẫy, trên Internet cũng có. Vì thế đây là một bài viết ngắn gọn tôi viết theo như tôi hiểu, viết ra các định nghĩa này theo kinh nghiệm và trực giác của mình (chưa chắc đã chính xác 100%, nhưng ít nhất là có kiểm chứng). Lý do tôi làm thế vì:

  1.  Đa số các thầy từ xưa nói về khí đều dùng thứ ngôn ngữ Đạo gia hay Phật gia huyền bí.
  2.  Sau thế hệ các cao thủ khí công thực sự, thì các thầy thuộc về thế hệ sau chủ yếu là tập theo động tác, kinh nghiệm của thế hệ trước theo kiểu cầm tay chỉ dạy, ít chịu học nguyên lý, vì thế lý luận khí công thường là lệch lạc, chắp vá và không kiểm chứng bằng thực tế được.
  3.  Đa số các sách dạy khí công thế hệ sau này toàn là nói láo, lẫn lộn nhập nhằng khí, không khí, máu, oxygen …etc.., lập lờ đánh lận con đen, cố gắng giải thích khí công bằng y học phương Tây, nhưng thực ra hai thứ đó không phải là một.

Những thứ lý luận loằng ngoằng, cao siêu về Ý và Khí người ta viết chán rồi. Hồi tôi 18 tuổi cũng có viết một bài, giờ đọc lại thấy hơi buồn cười, mặc dù cũng không có sai sót gì nghiêm trọng, ít nhất là hơn mấy bố viết sách khí công bán lấy tiền bây giờ ở Việt nam:

http://hanoicorner.com/Forum/viewtopic.php?f=68&t=1663&sid=86f129f3b1fdfdaeb5efbd272ca8d642

Vì thế, ở đây tôi diễn giải đơn giản theo cách hiểu của tôi.

Khí, viết theo tiếng Hán, không phải là không khí mà là năng lượng, như từ khí trong Điện khí hoá, Cơ khí hoá …etc…

Năng lượng này ở đâu mà có? Trong Đạo gia, người ta tin rằng khi con người ta sinh ra từ cơ thể người mẹ, thì trong người đã có năng lượng thừa hưởng từ người cha và người mẹ, và từ trong trời đất, gọi là năng lượng tiên thiên. Về sau khi con người ta hít thở, ăn uống tạo nên năng lượng cho mình để lớn lên và phát triển thì gọi là năng lượng hậu thiên. Trong sách về khí công hay truyện chưởng thường viết đó là Tiên thiên chân khí và Hậu thiên chân khí. Phật gia khi truyền từ Ấn Độ sang Trung quốc cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng này. Phật giáo ở Ấn Độ bắt nguồn từ đạo Hindu thì tư tưởng có khác biệt rõ rệt. Đây chính là lý do các phương pháp tập Yoga, nội lực của Ấn Độ và Phật giáo truyền từ Ấn Độ lên Tây Tạng (Mật tông) hoàn toàn khác biệt với các phương pháp tập của Trung quốc.

Khí công Đạo gia và Phật gia tin rằng năng lượng tiên thiên của con người là năng lượng thuần khiết nhất, và có mạch nối liền với vũ trụ, nên người tập khí công phải tìm cách bảo trì năng lượng tiên thiên, năng lượng hậu thiên chỉ có vai trò duy trì và bù đắp những mất mát trong quá trình con người phát triển. Chính vì thế nên khí công Đạo gia và Phật gia mới chủ trương giữ gìn tinh khí, luyện đồng tử công, bế dục hoặc hạn dục để duy trì năng lượng ở mức cao và tập thành cao thủ.

Luyện khí theo kiểu Đạo gia hay Phật gia Trung Quốc là tích luỹ khí (năng lượng), cố bản bồi tinh (tìm cách tránh thất thoát năng lượng tiên thiên, bồi bổ bằng năng lượng hậu thiên thông qua ăn uống, hít thở). Sau đó quá trình luyện tinh hoá khí là dùng các động tác luyện tập khí công kết hợp với hơi thở để biến đổi tinh (vật chất) thành khí (năng lượng), đồng thời thay đổi về chất cấu trúc của cơ thể.

Tinh ở đây nên hiểu là những tinh hoa vật chất của cơ thể, hoặc là do sinh ra có sẵn một ít, hoặc là do quá trình trao đổi chất, ăn uống hít thở của cơ thể tạo nên. Từ tinh hoa vật chất này, mới sinh ra năng lượng, da, thịt, tóc v.v…

Chính vì Khí được chuyển hóa từ tinh chất này nên nếu luyện Khí quá mức hay luyện nhiều lần thì nó phải rút tỉa tới những tinh chất có sẵn trong cơ thể như tủy sống, do đó sinh ra suy nhược hoặc bất lực là như vậy.

Khi tinh không bị thất thoát, khí được tích luỹ đầy đủ thì thần (tinh thần) của con người sẽ được nâng lên một tầm cao mới. Lúc đó ý chí con người trở nên kiên định, khả năng hoạt động của não cao, cơ thể khoẻ mạnh nên con người có thể làm nên những kỳ tích mà đối  với người thường là phép lạ.

Tôi không muốn nói ví dụ cụ thể về bản thân về những gì tôi đạt được khi tập khí công. Hy vọng là riêng chuyện tôi chữa khỏi bệnh hen suyễn kinh niên rất nặng của mình cũng nói lên được điều gì.

Đoạn trên là tóm tắt của Luyện tinh hoá khí, Luyện khí hoá thần. Tôi chưa qua các mức khác nên không dám nói.

II. Những ngộ nhận về tập khí công

1. Tập khí công khó khăn, huyền bí

Khí công về mặt bản chất không có gì khó khăn, huyền bí cả. Cách tập ở mức cơ bản chỉ là dùng hơi thở hoà hợp với vận động của cơ thể, kích thích, co nén nội tạng, nhận biết được hơi thở và vận động, đồng thời luyện lắng nghe cảm giác của mình đối với nội tạng.

Con người ta từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, hầu như ai cũng tập thể dục, lao động tay chân, cơ bắp, nhưng không luyện nội tạng. Do đó nội tạng cứ hoạt động qua tháng ngày rồi chết, không được luyện tập. Luyện khí công chính là luyện nội tạng.

Nói thì huyền bí, nhưng bước đầu tiên, cơ bản thì chính là tập thở, ai cũng tập được.

2. Tập khí công mất thời gian

Khi nói đến tập khí công, đa số người bình thường nghĩ đến ngồi thiền, quán tưởng, thở hít phì phò, khua tay khua chân hàng tiếng đồng hồ.

Mức cơ bản tập khí công của tôi cho đến khi chữa hoàn toàn bệnh hen suyễn là mỗi ngày luyện 6 hơi thở. Lúc hơi thở ngắn, thở ra 10 giây, hít vào 10 giây là 20 giây một hơi thở ra hít vào, tổng cộng 6 lần thở ra hít vào là 20 giây x 6 = 120 giây = 2 phút.

Sau này hơi thở tôi dài ra 1 phút rưỡi một lần thở ra hít vào, thì 6 hơi thở mất 3 phút  x 6 = 18 phút. Nhưng đó là tôi tập thêm phần kinh mạch về sau, còn người bình thường tập bài khí công như tôi từng tập thì hiếm có ai mất quá 4 phút một ngày.

Tất nhiên tập khí công trong võ thuật thì lại khác nữa, ví dụ như có lời đồn tôn sư Diệp Vấn tập bài Tiểu Niệm đầu mất từ 45 phút cho đến 1 tiếng. Chuyện này thật giả không biết, chứ cá nhân tôi luyện riêng phần tụ khí (là phần 1 trong 3 phần tụ khí, xả khí và dụng khí của bài Tiểu Niệm đầu) là đã mất hơn 30 phút.

Thời cổ đại người ta dùng cưa tay, cưa cây cổ thụ hết mấy ngày. Giờ ta dùng cưa máy, cưa cây cổ thụ một phát là đứt, nên chuyện tập khí công ngày mấy tiếng chỉ có ở thời Xuân Thu Chiến quốc, chứ vào thời cuối Thanh, đầu Dân quốc, nghiên cứu về Đạo gia Khí công đã tương đối hoàn chỉnh, con em quý tộc vùng An Huy, Phúc Kiến Trung quốc đến sau 17 tuổi là hoàn thiện toàn bộ phần luyện tinh hoá khí. Những kỹ thuật còn truyền về sau này, công năng là tính bằng phút, chứ không tính bằng tiếng đồng hồ nữa.

Tập khí công cho sức khoẻ thì rất ít ai cần tập hơn 4 phút một ngày, mà thậm chí là không nên luyện hơn 4 phút một ngày, lý do tôi sẽ giải thích tiếp ở dưới.

3. Tẩu hoả nhập ma khi tập khí công

Nhiều người cả đời chả bao giờ đọc một sách khí công, đông y nào nghiêm túc, chưa từng gặp một ai có tập qua khí công, chỉ đọc truyện chưởng, nhưng khi nói đến khí công thì hễ mở mồm ra là phán y như đúng rồi.

Luyện khí công rất dễ, nhưng chính vì nó quá dễ nên ít người chịu nghe dặn dò và làm theo cái dễ đó một cách nghiêm túc, mà đa số là xảy ra một trong hai trường hợp sau:

  • Thấy dễ quá, tập chơi cho biết, tập dăm bữa nửa tháng không thấy gì rồi bỏ. Trường hợp này là còn tốt.
  • Thấy dễ quá, tập nhẹ quá, không thấy mệt, nên tăng liều lượng tập lên. Ví dụ như nhiều người tập trong khoảng thời gian mấy tháng đầu tiên, căn cơ chưa vững, không thấy gì, nghĩ là tập hít vào thở ra 6 lần chưa ngon, tăng lên 12 hơi thở chắc ngon hơn.

Đây chính là nguyên nhân gây hại khi tập khí công. Thời gian ban đầu chính là thời gian để luyện tinh hoá khí, tức là luyện vật chất của cơ thể ra năng lượng. Nếu cơ thể sinh ra vật chất không kịp, thì quá trình này sẽ luyện vào nguyên tinh cốt lõi của cơ thể. Cá nhân tôi đã quan sát được hai người bị rối loạn huyết áp và nhịp tim khi tập quá độ trong một thời gian dài. Họ tập vài tháng đầu không thấy gì, sốt ruột muốn nhanh, tập tăng cường độ và bị ảnh hưởng ngay. Có một người cũng tập như vậy, và bị giảm khả năng hoạt động sinh lý.

Nhưng tập đúng trong khuôn khổ, thì khí công sẽ bồi đắp căn cơ, cốt lõi và nội tạng của cơ thể, làm cho cơ thể khoẻ mạnh và hoạt động hiệu quả hơn.

Vì thế Đạo gia mới nhấn mạnh vào “Dục tốc bất đạt” và “Hữu sở cầu tất hữu sở thất”. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi và quan sát nhiều người tôi hướng dẫn trong vài chục năm nay, rải rác ở Việt nam, Đức và Mỹ, thì chỉ cần cẩn thận, nghiêm túc tập đúng 6 hơi thở, chứ Không Phải là 5 hơi, 7 hơi hay 12 hơi, thì sẽ có kết quả khi tập đủ ngày tháng (9 tháng – 1 năm), chứ không có vấn đề gì. Hôm trước ngồi chơi với một cậu bạn có kinh nghiệm nghiên cứu Dịch số, Phong thuỷ, cũng có nói về hồi trước cậu ấy đi tập Thiền, người thầy cũng nói về chuyện củng cố căn cơ bằng 6 hơi thở. Có lẽ để ra được con số 6 này, cũng phải tốn nhiều mạng tôn sư, “tẩu hoả nhập ma” mất nhiều người rồi thì mới đúc rút ra được.

Nhưng theo cá nhân tôi, cứ tà tà mà tập, đừng mong cầu, sốt ruột, đúng ngày đúng tháng sẽ có kết quả. Quan trọng nhất là ngày nào cũng phải tập, công phu là cần đều chứ không cần nhiều.

4. Khí công cao là võ thuật cao

Đây là một ngộ nhận nguy hiểm. Khí công là luyện nội tạng bên trong. Nó trợ giúp cho vận động và việc sinh ra năng lượng, lực của cơ thể. Nhưng để đem ra đánh người thì gân cơ bên ngoài cũng phải bền chắc để chịu va đập, phải có ý thức về quyền cước qua lại thì mới đánh người được.

III. Tóm tắt vấn đề

Luyện khí công không khó khăn, huyền bí, cũng không tốn thời gian. Người thông thường chỉ cần luyện từ 2 đến 4 phút một lần tập, mỗi lần tập chỉ thở 6 hơi thở hít vào + thở ra, mỗi ngày tuyệt đối không nên tập quá 2 lần.

Tập khí công chỉ cần đều, ngày nào cũng tập. Nên chọn một cữ nhất định để tập, ví dụ hôm nay mình tập buổi tối thì hôm sau cũng tập buổi tối, cứ thế kéo dài mãi hàng tháng, hàng năm, thời điểm có thể xê xích, nhưng đừng xê xích nhiều quá.

Người xưa có tổng kết về 4 thời điểm có thể chọn để tập khí công tốt nhất trong ngày, nhưng tôi không nói cho khỏi loãng. Hơn nữa thời hiện đại, mấy ai làm chủ hoàn toàn giờ giấc, nên miễn đúng cữ, đừng xê dịch quá, ví dụ đừng có hôm thì tập tối, hôm thì tập trưa, hôm thì tập sáng, thế là được.

Tập khí công nếu làm đúng số lần, không nhiều hơn, không ít hơn thì không có nguy hiểm. Nhưng những người tôi quan sát qua hàng chục năm nay thì hễ tập không đều hoặc ít hơn là không kết quả, còn những người cố tập tăng cường độ lên, thì TOÀN BỘ đều bị bệnh và có vấn đề tim mạch, huyết áp, sinh lý.

Tập khí công dễ, chính vì dễ mà không ai làm, hoặc làm theo mà không nghiêm túc. Theo quan điểm cá nhân của tôi, thì như thế cực kỳ có hại. Hại nhẹ nhất là trong vòng mấy tháng tự nhiên mỗi ngày mất mấy phút làm một việc vô tích sự. Hại nặng nhất là bệnh tật.

Nhưng trong đời cái gì cũng thế thôi, ít quá hoặc nhiều quá đều có hại. Quan trọng nhất là theo cái dễ mà làm đều đặn hàng ngày trong mức vừa đủ.

Hiện nay sách vở, tài liệu khí công nhiều, người tập khí công cũng nhiều. Vì thế khi chọn phương pháp tập, thầy tập thì nhớ quan sát hai điều:

  • Người thầy, phương pháp có lý luận rõ ràng, hợp lý hay không.
  • Người thầy, người viết sách có thành tựu gì, kết quả gì không.

Hai điều trên không có thì chính là nói láo, không nên tập. Phải có đủ cả hai. Thậm chí kể cả nếu người thầy có làm được một số kỳ tích, nhưng không giải thích được thì mình cũng không nên tập theo, vì sẽ không biết là có ảnh hưởng phụ gì hay không.

Khí công, cũng như cơm nước hàng ngày, ai tập thì người đấy khoẻ, ai ăn người đấy no, không tập giúp, ăn giúp được. Mỗi người nếu có quan tâm thì nên tìm hiểu nghiêm túc và chọn con đường cho chính mình, tập luyện kiên nhẫn, nghiêm túc và không nóng vội. Còn nếu không, thì không nên tập, vì vừa lãng phí thời gian, vừa có thể gây hại cho sức khoẻ.

Châu Hồng Lĩnh
Los Angeles, December 18th, 2013

Nguồn: Facebook của Châu Hồng Lĩnh


Leave a comment

“Phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực”

“Nếu phụ nữ có thiên chức làm mẹ thì nam giới có thiên chức là giúp phụ nữ sinh con đẻ cái. Chẳng có gì đặc biệt trong thiên chức của người phụ nữ cả. Đừng thần thánh hóa thiên chức, đừng đặt phụ nữ “lên bàn thờ” để ràng buộc họ”, TS. Khuất Thu Hồng chia sẻ.

Tại buổi thảo luận về chủ đề “Phụ nữ có cần thành đạt” diễn ra chiều 29/11 tại Hà Nội, Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) đã chia sẻ những quan điểm thẳng thắn về sự nghiệp, thành đạt, hôn nhân và tình dục của phụ nữ dưới lăng kính của giới và nữ quyền.

Đàn ông cũng có thiên chức

Chia sẻ về các rào cản trên con đường thành công của phụ nữ, TS. Khuất Thu Hồng cho rằng phụ nữ Việt đang phải đối mặt với rất nhiều áp lực, áp lực từ xã hội và chính họ cũng đang tự tạo áp lực cho mình. Đặc biệt là áp lực kết hôn, phải có gia đình, phải có con cái.

“Ở Mỹ, nhiều phụ nữ kết hôn muộn, thậm chí không kết hôn. Còn ở Việt Nam thì kết hôn là điều gì đó nhất định phải xảy ra ở phụ nữ. Là người phụ nữ dù có thành đạt, giỏi giang bao nhiêu đi chăng nữa mà không kết hôn, không có con cái thì với xã hội chẳng có nghĩa lý gì. Gia đình, con cái được coi là nền tảng của phụ nữ. Có nhất thiết phải kết hôn ở một độ tuổi nào đó hay không? Nhất thiết phải có hai thứ sự nghiệp và hôn nhân hay không?”, bà Hồng chia sẻ.

phụ nữ, đàn ông, bình đẳng giới, thành đạt
TS Khuất Thu Hồng.

“Đôi khi chúng ta đang cường điệu hóa giá trị phương Đông, cứ cho rằng người châu Á coi trọng giá trị gia đình hơn người phương Tây. Nhưng phương Tây họ cũng yêu quý gia đình mình lắm, quan tâm một cách chân thực, thực lòng. Còn châu Á đôi khi quan tâm là trình diễn vì chúng ta chịu áp lực phải hiếu thảo, muốn chứng tỏ chúng ta đề cao giá trị của gia đình. Thần thánh hoá gia đình là chúng ta tự tạo áp lực cho mình và tự tạo áp lực cho nhau”, bà nói thêm.

Theo vị chuyên gia nghiên cứu về giới này, phụ nữ Việt bị trói buộc bởi “thiên chức” làm mẹ nên tài năng, ước vọng của phụ nữ thường bị ưu tiên cho gia đình, con cái nhiều hơn là ước vọng của bản thân. Đó chính là rào cản của người phụ nữ.

“Tôi rất dị ứng với từ thiên chức. Phụ nữ và nam giới khác nhau ở đặc điểm sinh học. Tại sao lại nhấn mạnh vào sự khác biệt đó trong khi chúng ta biết rõ khác biệt là một thực tế. Nếu phụ nữ có thiên chức làm mẹ thì đàn ông cũng có thiên chức cao cả là giúp phụ nữ sinh con đẻ cái”, bà Hồng nói.

“Phụ nữ luôn muốn là người hoàn hảo: cái gì cũng giỏi, cán bộ giỏi ở cơ quan, người mẹ, người vợ đảm ở nhà. Phụ nữ ở Việt rất sợ bị chê trách là thiếu chu đáo, không đảm đang, là lười, là đoảng. Nếu cứ chạy theo những thứ đó thì không bao giờ làm được gì cả. Đừng mơ tưởng mình trở thành một người hoàn hảo, mà hãy chọn thứ mình thích nhất để tập trung làm cho tốt”, bà Hồng chia sẻ thêm.

Trước câu hỏi “Phụ nữ có cần hy sinh cho con cái hay không?”, TS. Hồng cho rằng các bà mẹ cứ tưởng là mình phải hy sinh, nhưng chưa chắc con cái đã cần đến sự hy sinh đó, thậm chí nó còn trở thành gánh nặng với con cái.

“Quan niệm đạo đức của người Việt cho rằng người mẹ phải hy sinh một cách vô điều kiện cho con cái của mình. Nhưng những đứa trẻ biết suy nghĩ thì nó cảm thấy rất nặng nề khi biết mẹ phải hy sinh cho mình, nó cảm thấy sự hy sinh đó là vô lý, không cần thiết. Những bà mẹ góa sớm từ chối hạnh phúc cá nhân để toàn tâm toàn ý cho con. Những bà mẹ từ bỏ sự nghiệp cá nhân ở nhà chăm sóc con cái. Các con không cần đến sự hy sinh theo kiểu mất tất cả như vậy. Khi hy sinh tất cả là người mẹ kỳ vọng rất nhiều ở con, hy vọng lớn lên con sẽ đền đáp. Và khi sau này con cái không thể thực hiện thì sẽ thành nỗi thất vọng cho cả hai”, bà lý giải.

Bình đẳng không phải chia thế giới làm đôi!

Theo vị Viện trưởng Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội, cái cốt lỗi của đấu tranh cho bình đẳng giới là để thế giới đa dạng, phong phú hơn, là để phụ nữ và nam giới đều có cơ hội phát huy hết khả năng của mình.

“Bình đẳng không phải là chia thế giới này làm đôi, tôi làm như vậy anh cũng làm như vậy, anh hưởng như vậy tôi cũng hưởng như vậy. Bình đẳng là tạo cơ hội để cả hai giới phát huy hết khả năng của mình, thấy hết được vẻ đẹp của nhau. Bình đẳng là tạo cơ hội để một nửa quyền lực được trao vào tay phụ nữ, và tạo điều kiện để một nửa công việc gia đình được chia sẻ cho đàn ông”, bà Hồng nói.

Ở Việt Nam, nhiều người cho rằng, đối với phụ nữ thì lập gia đình là cánh cửa sự nghiệp đóng lại. Bà Hồng chia sẻ rằng, thực tế đó có thật, ngay cả ở cơ quan bà, có những người khi mới vào nghề thì rất hăm hở, giớ lấy chồng có con thì rất an phận thủ thường. Rõ ràng họ đã mất đi nhiều cơ hội.

“Cánh cửa thành công chẳng bao giờ đóng sập trước mặt ai nếu chúng ta không cam chịu. Đóng lại hay mở ra phụ thuộc vào bạn có coi trọng sự nghiệp hay không. Như bản thân tôi kết hôn năm 22 tuổi, tôi vừa đi học đại học vừa nuôi con, ru con ngủ rồi tôi mới ngồi vào bàn học, học đến 2 giờ sáng. Khi làm luận án tiến sĩ thì con thứ 2 của tôi cũng mới 2 tuổi”, bà thẳng thắn chia sẻ.

Bà Hồng cho rằng, phụ nữ Việt Nam rất thích được chiều chuộng, nhưng chính sự ngây thơ hay giả vờ ngây thơ của phụ nữ lại mất điểm trong mắt đàn ông và khiến đàn ông Việt ngày càng gia trưởng hơn.

“Phụ nữ Việt rất thích được chiều chuộng, thích được coi mình là em bé. 30-40 tuổi vẫn tỏ ra ngây thơ, nhí nhảnh, bé bỏng đòi hỏi sự chiều chuộng. Hình như người ta nghĩ như vậy sẽ nữ tính hơn. Người ta cứ cho rằng là phụ nữ phải biết nhõng nhẽo một tí, cái gì cũng biết làm thì đàn ông sợ. Người ta sợ một người phụ nữ thành công độc lập sẽ không còn nữ tính nữa. Độc lập không có nghĩa là ăn thua cho bằng được, độc lập là không ỉ lại, làm những việc mình có thể làm được không làm phiền người khác”, bà phân tích.

Phụ nữ thành đạt có cô đơn không?

“Đẳng sau một người đàn ông thành đạt là một người phụ nữ đảm đang, đằng sau một người phụ nữ thành đạt là một gia đình tan hoang”, TS. Hồng mở đầu câu trả lời bằng câu truyền miệng vui nhưng rất sâu cay. Người ta cứ nghĩ rằng, phụ nữ thành đạt thì cuộc sống riêng sẽ không hạnh phúc, sẽ cô đơn. Nhưng bà nghĩ khác: “Cô đơn và thành đạt không đi liền với nhau. Tiểu thuyết thường mô tả phụ nữ thành đạt là cô đơn, tôi nghĩ những người thất bại cũng cô đơn không kém. Cô đơn hay không phụ thuộc vào cách chúng ta sống chứ không phụ thuộc vào thành đạt”.

“Có một thực tế đang xảy ra là những người phụ nữ chuyên tâm đến sự nghiệp thì rõ ràng họ đã bỏ qua thời thanh xuân. Đàn ông sợ phụ nữ độc lập vì trong tư tưởng của họ, họ phải là người cầm trịch trong gia đình, trong mối quan hệ của mình. Họ sợ rằng phụ nữ thành đạt thì không lo được cho gia đình, con cái”, bà Hồng nói thêm.

Theo bà Hồng, đằng sau một người phụ nữ thành đạt hạnh phúc là một người bạn đời. Người nữ vừa có sự nghiệp vừa có gia đình yên ấm liên quan rất nhiều đến người bạn đời. Người chồng phải là “người bạn đời” chứ không phải là người anh, người cao hơn vợ một cái đầu. Họ phải biết chia sẻ, biết tự hào với thành công của vợ chứ không phải là nỗi sợ “lép vế” như cảm xúc của phần nhiều đàn ông Việt hiện tại.

Với câu hỏi cho rằng, phụ nữ tài giỏi, thành công trong sự nghiệp nhưng gặp trục trặc trong cuộc sống hôn nhân thì có được cho là thành đạt hay không. Vị chuyên gia này cho rằng: “Thành đạt và hạnh phúc là 2 phạm trù khác nhau. Thành đạt là thành đạt. Phụ nữ thành đạt trong công việc là một phụ nữ thành đạt. Còn có hạnh phúc hay không thì là cảm nhận riêng của họ”.

Kim Minh – Vietnamnet