Ooker's blog

Tôi và thế giới


Leave a comment

Tại sao lý thuyết Maxwell lại khó hiểu

Trong cơ học lượng tử, cũng như trong lý thuyết Maxwell, Tự nhiên sống trong thế giới toán học trừu tượng của lớp thứ nhất nhưng chúng ta, con người, lại sống trong thế giới cơ học cụ thể của lớp thứ hai. Chúng ta chỉ có thể mô tả Tự nhiên bằng ngôn ngữ toán học trừu tượng bởi vì ngôn từ bằng lời thông thường của chúng ta chỉ có thể mô tả lớp thứ hai.

Source: Tại sao lý thuyết Maxwell lại khó hiểu


Leave a comment

For the Love of Physics

Hồi học môn quang năm hai, thầy dạy quá chán nên chui lên YouTube học, thế là phát hiện ra loạt bài giảng của GS Walter Lewin về điện từ. Thấy hay quá nên ngồi coi các bài giảng khác mặc dù mình biết hết rồi. Chúng thật tuyệt vời. Cũng chỉ là phấn trắng bảng đen, nhưng lần này có hai thứ khác: thí nghiệm, và sự nhiệt tình đầy điềm đạm của một người thầy già.

Đúng là ở bậc đại học, cấp bậc nghiên cứu, thì khoảng cách kiến thức giữa thầy và trò không còn quá xa nữa. Tương lai của trò là trở thành một đồng sự của thầy trong nay mai. Kiến thức cần được cập nhật thường xuyên, vì thế người trẻ luôn có lợi thế. Nhưng nói thật mình chỉ thích học với thầy già mà thôi. Người trẻ dạy rất hăng say và nhanh nhạy, điều này tốt. Nhưng chỉ có những người đã trải qua một chặng đường dài mới có thể thốt ra được những lời nói đầy trí tuệ. Cũng vẫn là F=ma, nhưng F=ma của một ông giáo già khác xa với F=ma của một tân PhD. Cả hai đều nhiệt tình như nhau, nhưng anh PhD kia có cố gắng đến mấy cũng không thể tạo ra được hiệu ứng lão hóa mà ông giáo già có được. Cách duy nhất để có thể có hiệu ứng đó là trở nên già.

Quay trở lại với ông Walter. Đây là buổi giảng cuối cùng của ông. Các cựu học sinh già trẻ lớn bé đều quay lại. Trong bài giảng cuối này ông làm hai thí nghiệm đáng nhớ nhất trong suốt cuộc đời dạy học của mình.


2 Comments

Sự bất lực của triết học?

Lâu lâu chém gió triết học tí cho vui vậy. Biết là cái này quá là phản triết học/phản khoa học, nhưng mà tôi lười định nghĩa tụi nó quá, cứ lấy định nghĩa chung mọi người đều hiểu là được.

Lưu ý hai điều: thứ nhất là cái định nghĩa đó nằm trong từ điển, thứ hai là tôi phân tích một thôi một hồi sẽ đưa ra định nghĩa =)). Cái này cũng đúng thôi, vì định nghĩa nên được xem như là kết tinh của quá trình suy luận, chứ không phải là nền tảng để từ đó suy luận nên. Bạn xem sự phát triển về định nghĩa của hàm lượng giác sẽ hiểu.

Nhiều nhà khoa học không công nhận triết học có thể làm ra được trò trống gì. Họ cho rằng triết học đã chết. Chết vì nó không còn đem lại tư tưởng gì mới cho nhân loại cả. Tưởng tượng thế này cho dễ: triết học đặt ra vô vàn câu hỏi, và các triết gia cố gắng trả lời cho các câu hỏi đó. Những câu hỏi mà các triết gia có thể đưa ra câu trả lời, ngày nay các nhà khoa học trả lời còn thuyết phục hơn. Những câu hỏi mà các triết gia chưa thể đưa ra câu trả lời, rất nhiều câu các nhà khoa học cũng đề xuất được hướng giải quyết. Còn những câu hỏi mà cả các triết gia và các nhà khoa học đều bí, thì các sản phẩm phụ trong quá trình giải quyết của các nhà khoa học có vẻ vượt trội hơn nhiều lần.

Hồi đó cũng rộ lên chuyện hóa học đã chết. Nó chết, một phần thứ cơ bản nhất của nó – nguyên tử – đã được giải thích bằng vật lý. Phần nữa, quan trọng hơn, là nó đã sống một cuộc đời quá thành công. Nó xâm nhập sâu rộng trong mọi trận địa của khoa học (cơ bản): vật lý, toán học, sinh học. Chính vì vậy, nó cũng bị các ngành kia xâm nhập lại, và rốt cuộc là bị đồng hóa. Kiểu như tiếng Pháp 99% (số này không chắc, nhưng nhớ có lần ông Cao Xuân Hạo có nói vậy :v) là nhập khẩu từ nước ngoài, vậy thì nó có phải là một ngôn ngữ riêng hay chỉ là một tổ hợp tạp nham? Còn người nói tiếng Pháp thì tiếng Pháp còn sống, còn người làm hóa học thì hóa học còn sống. Nhưng những kiến thức mới của hóa học, phần nhiều không còn đến từ những nhà hóa học. Bạn xem danh sách những người đoạt giải Nobel hóa học sẽ thấy đa phần họ đến từ các chuyên ngành khác.

Vậy thì ở đây là gì? Là nên sửa lại là triết học đã trở nên bất lực. Triết học đã trở nên bất lực, vì nó đã không còn đủ khả năng để trả lời cho những câu hỏi mà nó đặt ra. Nhưng như vậy cũng có nghĩa là nó đã sống một cuộc đời quá thành công, vì nó là viên gạch đầu tiên cho sự tiến bộ của nhân loại. Nó đặt câu hỏi, và truyền cảm hứng để chúng ta sống chết với câu hỏi đó. Vì chúng ta sống chết với câu hỏi đó quá nhiều, và quá khổ với sự sống chết đó, nên khi có được câu trả lời từ khoa học, chúng ta sung sướng, thăng hoa, rồi quên luôn kẻ đã đặt câu hỏi đó. (Bạn cứ xem chém gió trên Fb xem, người có câu trả lời đáp ứng được sự mong đợi của nhiều người được like nhiều vô kể, trong khi người đặt câu hỏi chỉ lèo tèo vài like, và sự tương phản đó khiến cho ta có cảm giác là người trả lời thông minh sắc sảo vô ngàn. Nhưng ta lại quên mất rằng không có người hỏi thì sẽ không có người trả lời).

Không! Công lao của triết học không nằm ở chỗ nó có thể trả lời. Công lao của nó nằm ở sự hoài nghi. Sự hoài nghi mọi thứ. Nó đã thành công trong việc gieo rắc sự hoài nghi này đến cho mọi người. Khoa học là những đứa con của triết học. Nó thừa hưởng cái gene hoài nghi của mẹ nó. Mẹ của chúng nay đã già, và đã không còn có thể nuôi sống bọn chúng. Ngược lại, chính bọn chúng phải bỏ tiền bỏ của để nuôi dưỡng lại bà mẹ già. Chúng, trong sự lý tính của chính mình, hiểu rằng không thể bỏ mặc bà già này đến chết được, vì những kẻ triết gia là những kẻ cực đoan về sự hoài nghi, và nhiệm vụ của khoa học là đi tìm câu trả lời, không phải là ngồi đó hoài nghi. Mất đi sự hoài nghi, chúng sẽ giống như đàn mối mất đi mối chúa: đàn mối vẫn sống, nhưng khi những con mối cuối cùng chết đi, tổ mối sẽ chỉ còn lại một nơi hoang văng lạnh lẽo. Chúng, trong sự lý tính của chính mình, sau khi đã giải thích được tình mẫu tử là gì, chợt hiểu rằng chúng là con của mẹ, và chúng yêu mẹ biết bao.
 
 
 
 
 

Người ta nói rằng, triết học giống như cái tử cung vậy. Nó cố gắng lấp đầy bằng các câu trả lời, và khi các câu trả lời này lớn lên thành các đứa con khoa học, nó lại quay về thành một cái dạ trống rỗng còn hơn xưa.
 
 
 
 
 

Lưu ý là bà mẹ triết học khác bà mẹ sinh học nhé. Bà mẹ sinh học thì nuôi mấy cũng chết, nên các đứa con sinh học sẽ có lúc phải đối diện với sự thật này. Bà mẹ triết học thì chỉ không làm được gì thôi, chứ suy nghĩ thì vẫn minh mẫn.

Thế nên, triết học không dành cho những ai muốn có câu trả lời, nó dành cho những ai muốn hoài nghi. Đặt câu hỏi – triết học; tìm câu trả lời – khoa học. Bạn đọc về triết, vì muốn biết thêm về lịch sử tư tưởng của con người, và muốn được hoài nghi.

.
.
.
Tôi đã cố gắng đưa ra một câu trả lời về sự bất lực của triết học. Câu hỏi là: nãy giờ tôi đang làm khoa học hay làm triết học?


Leave a comment

Ảo thuật

Ngồi nhai sing-gum, bắt chuyện với mọi người, tôi đang ngồi chờ để được gọi vào phỏng vấn học bổng VEF. Trước đó, tôi đã áp dụng các thủ thuật tâm lý (ăn mặc đẹp, đứng tư thế thủ lĩnh, nhìn vào gương để nhìn thấy sự quyết tâm trong đôi mắt của mình), tôi bước vào phòng phỏng vấn, tin chắc là mình sẽ chiến thắng. Tôi sẽ chiến thắng.

Tôi là con sư tử, là chúa tể muôn loài. Tôi là nhà ảo thuật, là kẻ làm mê hoặc lòng người. Đôi chân run run khi bước lên sàn diễn, nhưng tin chắc là chiến thắng sẽ thuộc về mình. Khán giả của tôi ngồi đó, hai vị giáo sư, một ông, một bà. Họ bắt tay tôi, như những vị khán giả ngồi dưới vỗ một tràng pháo tay nhẹ nhàng. Hít một hơi, tôi đưa ra tiết mục đầu tiên:

Xin chào mọi người lần nữa, tôi tên là Nhật. Tôi đến từ trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM. Tôi theo đuổi vật lý sinh học vì tôi thích cả vật lý và sinh học. Vật lý giúp tôi giải thích thế giới bên ngoài con người mình, sinh học giúp tôi giải thích thế giới bên trong con người mình. Vì vậy tôi thích vật lý sinh học là điều dễ hiểu. Ngoài ra ngành này còn đòi hỏi những kiến thức bên ngoài như toán. lập trình, mạng máy tính.

Đây là tiết mục khởi động, như chuyện hô biến con thỏ trong lồng kính mà thôi. Nghe có vẻ hay đấy, nhưng ai cũng nói được. Khán giả lão luyện lắm, họ sẽ đòi lại tiền vé (ở đây là không chịu cho mình tiền) nếu chỉ dừng lại ở đó. Họ thăm dò:

Tôi thấy trong bài luận của anh có nói về một thứ… À mà thôi, cái đó để sau cũng được. Anh hãy nói về đề tài về HIV của anh đi.

Sự ngập ngừng đấy, thật tuyệt vời. Vậy là cá đã cắn câu. Tất nhiên, cá phải vùng vẫy cái đã.

Vâng, đề tài nghiên cứu của tôi là về con protease trong HIV. HIV muốn trưởng thành phải nhờ đến protease này cắt một chuỗi polypeptide. Để liên kết được với chuỗi này, protease sẽ dùng lực tĩnh điện. Đề tài của tôi sẽ là khảo sát loại lực này khi thuốc liên kết với các thể đột biến khác nhau.

Nhị vị khán giả hỏi rất kỹ lưỡng. Họ không phải dạng vừa đâu. Họ hỏi về tại sao tôi lại áp dụng phương trình Poisson – Boltzmann cho hệ này, về cơ sở dữ liệu của những thể đột biến này, điểm yếu chết người của đề tài là không có chạy cấu hình cho protease sau khi cắt phối tử khỏi file pdb. Về kết quả của đề tài, về tiềm năng của nó. Ai là người chọn đề tài này: tôi hay là người hướng dẫn? Trong đề tài này đóng góp của từng người như thế nào? Rất nhiều, rất kỹ.

Và rồi thì họ cũng không kiềm chế được sự tò mò:

Anh có nói là anh có một đề tài về tình yêu? Nghe thú vị đấy, anh có thể nói về nó được không?

Tôi sốt sắng đứng lên bảng thuyết trình. Tôi biết, tới đây tôi đã thắng.

.

.

.

.

.

Chuyện đằng sau không còn cần phải kể nữa. Tôi đưa ra màn cao trào của riêng mình. Tôi thao thao bất tuyệt trong sự ngạc nhiên của họ về những gì tôi biết.

Tôi không muốn nghĩ là mình đặc biệt, vì biết rằng khi kiêu ngạo, con người sẽ trở nên ngu dốt và mù quáng. Nhưng từ sự quan sát mà tôi đã cố gắng khách quan nhất có thể, tôi nghĩ là tôi có sự khác biệt. Vì tôi là một người trưởng thành trẻ thơ (the childish mature). (Nhưng thôi, lạc chủ đề rồi. Chuyện này tính sau.)

Ai cũng từng là một đứa trẻ. Nhưng một người trưởng thành ngày nay khác hẳn một người trưởng thành cách đây vài chục ngàn đến một triệu năm trước: tất cả họ là những người to xác nhưng đầu óc thì vẫn là con nít. Mà con nít thì rất ham hiểu biết.

Tôi chỉ đơn giản là đánh vào sự ham hiểu biết đó. Tôi đưa cho họ một inception, một ý tưởng nguyên thủy, và để mặc ý tưởng đó nảy nở ra và định hình họ. Tôi cấy vào đầu họ một meme, một đơn vị ý tưởng, và để mặc con virus độc hại đó phát tán trong căn phòng.

Ảo thuật của tôi, chỉ đơn giản là kiến thức.

Chà, xém nữa thì quên. Mọi nhà ảo thuật đều phải có phụ tá. Để làm được những điều kinh ngạc, ta phải có một khả năng cũng kinh ngạc không kém. Mà khả năng kinh ngạc không kém thường có nghĩa là vượt quá khả năng của một người. Muốn làm việc quá sức mình, thì bắt buộc phải có người trợ giúp. Sẽ thật thiếu công bằng nếu chỉ nhận vơ hết vào mình.
Người đó, tính tới thời điểm này, là mẹ tôi.


Leave a comment

Dịch thuật ngữ khoa học sao cho đúng? (Tổng hợp link)

Đành rằng, nếu thuật ngữ sử dụng được định nghĩa, giải thích rõ ràng, được mọi người cùng chấp nhận và sử dụng thống nhất thì tính hợp lý của tên gọi không phải là vấn đề quan trọng. Thế nhưng, nếu thuật ngữ lựa chọn đã xét đến tính hợp lý của từ ngữ thì việc chấp nhận và ghi nhớ trở nên dễ dàng hơn.

Lê Hoàng Nhi

1. Lý luận

Mai Thị Loan, Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 27 (2011) 53-66

Các nhà khoa học nước ngoài và trong nước đã nêu rất nhiều đặc điểm của thuật ngữ, như thuật ngữ phải có tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn, tính đơn nghĩa. Vấn đề đặt ra ở đây là, chúng ta phải giải quyết như thế nào trong bốn mối quan hệ: chính xác và ngắn gọn, quốc tế và dân tộc, hay nói cách khác liệu tính quốc tế có mâu thuẫn với tính dân tộc, tính chính xác có mâu thuẫn với tính ngắn gọn hay không.
Michael Henry Heim & Andrzej W. Tymowski, Hướng dẫn dịch văn bản khoa học xã hội, American Council of Learned Societies
Bản hướng dẫn này đề cập đến việc dịch những văn bản thuộc các chuyên ngành khoa học thường được gọi là khoa học xã hội […], nhưng đồng thời nó có thể áp dụng cho việc dịch những văn bản của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, hay của báo chí và các cơ quan thông tin đại chúng khác. Có lẽ cũng có thể áp dụng phần lớn bản hướng dẫn này vào quá trình dịch các văn bản thuộc khoa học nhân văn (triết học, lịch sử, lịch sử nghệ thuật, khoa học âm nhạc, phê bình văn học, v.v. . . .).
Xem thêm cuốn này;

2. Triết học

Nguyễn Tấn Hùng, Về một số thuật ngữ triết học, chính trị – xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài, Tạp chí Triết học, Đại học Đà Nẵng,

  • Phản ánh được nội hàm của khái niệm gốc, nhưng không sát với thuật ngữ gốc của nó: tam quyền phân lập, chủ nghĩa thực dụng
  • Dịch sai cả về tên và nội hàm của khái niệm: chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa bảo thủ, v.v.

3. Kinh tế – luật

Giang Le, đăng trên Google+

Dù biết từ “hàng hoá” sẽ bị nhầm với “goods” nhưng không nghĩ ra được phương án nào tốt hơn. […] Tôi đoán các học giả trước năm 1975 cũng phải đánh vật với thuật ngữ này trước khi chọn từ “thương phẩm”. Giải pháp sử dụng chữ “thương” của họ vô cùng hay vì gắn được từ commodity với gốc gác mercantile của từ này. Những người dịch lúc đó phải hiểu rất rõ gốc gác của từ commodity, và tất nhiên họ phải có vốn Hán Việt thâm sâu. Còn tôi những lúc không thể dùng từ “hàng hoá” vì không muốn bị nhầm với “goods” chỉ đủ trình độ dịch thoáng thành “nhiên nguyên liệu thô”, quả thực là rất thô/phô.

Lê Hoàng Nhi, Tên gọi cho Hợp đồng và Thị trường kỳ hạn chuẩn (futures contract)

Để tránh sự lầm lẫn của từ ngữ “kỳ hạn” dành cho “forward” và “futures”, theo thiển ý của tác giả, chúng ta vẫn có thể duy trì tập quán dùng “kỳ hạn” cho “forward” và áp dụng thuật ngữ mới cho “futures” là “kỳ hạn chuẩn”. Từ “chuẩn” ở đây rất đắt giá vì hàm chứa tất cả các yếu tố “tiêu chuẩn hóa” (standardization) bởi thiết chế luật đặc biệt của nhà nước và của Sàn giao dịch. Tính “chuẩn” là cũng là căn cứ phân biệt một cách đầy đủ hợp đồng “forward” (không được chuẩn hóa) và hợp đồng “futures” (được chuẩn hóa).

4. STEM

Ooker, Ken, Lư Quốc Định, Về vấn đề dịch thuật chuyên ngành

Một vật có tính đối xứng tay gồm hai vật có tính thủ tính.

Bình luận một chút ở đây. Ở đây mọi người vẫn chưa đi được đến thống nhất, nhưng xét thấy mình đang bác bỏ cách dịch của Ken, trong khi Ken không bác bỏ cách dịch của mình mà chỉ nói “chỉ là quan điểm cá nhân thôi. Không thể giải trình để thuyết phục bạn được”. Nói thế thì khó mà thuyết phục được :-s Vật lý thì tính viết, nhưng chưa có thời gian viết. Cứ để đây cái đã: Momen lực, khí hiếm, cổ điển, sắc tích, hương tích


Leave a comment

Kinh nghiệm học vật lý lý thuyết

Đây là kinh nghiệm của tôi khi học ở bộ môn vật lý lý thuyết. Nói chung bộ môn nào cũng có những cái mới phải học và những cái khiến bạn bỡ ngỡ. Tôi sắp ra trường, hy vọng chút kinh nghiệm sẽ giúp bạn bớt bỡ ngỡ. Không nhắt thiết các bạn phải làm quen ngay từ bây giờ, hồi tôi học có ai chỉ lại đâu, vẫn học được như thường. Đọc cái này để các bạn mường tượng rõ hơn mình phải làm gì thôi. Còn chơi được thì cứ chơi :v. (Thật ra tới giờ vẫn còn ham chơi, năm ba còn ghiến Starcraft, năm tư ghiền cờ vây. Rốt cuộc là một tuần chắc chỉ có hai ba buổi là thật sự tự học ở nhà, còn lại chơi miết :v)


Hai thứ chắc chắn cần phải có khi vào đây:

  1. Đam mê
  2. Anh văn

Không có đam mê mà đâm đầu vô lý thuyết thì sẽ chết ngộp và chết ngạt. Không có đủ đam mê sẽ dễ dàng từ bỏ ngay từ những dòng suy luận đầu tiên. Cảm giác chinh phục được khó khăn thật vô cùng sung sướng, nhưng trước hết phải đụng mặt với khó khăn đã. Nó cũng giống câu: “ai cũng muốn lên thiên đàng, nhưng không ai muốn chết” vậy. 

Bộ môn lý thuyết không chỉ đơn giản là đào tạo ra người biết về vật lý mà còn đào tạo ra con người hiện đại, thích ứng tốt với mọi môi trường. Vì thế tất cả các các sách trong đó đều là sách tiếng Anh. Hai năm đầu các bạn toàn đọc sách tiếng Việt, bỗng dưng bị quăng một đống sách tiếng Anh, không kịp làm quen sẽ rất mệt. Lấy sách cơ lượng tử của thầy Hoàng Dũng làm thí dụ, viết tiếng Việt đọc còn chết lên chết xuống nói gì sách tiếng Anh. Đã phải đánh vật với tính toán và ý tưởng trong đó, còn phải đánh vật thêm với tiếng Anh sẽ mệt lắm. 

Học tiếng Anh thì không thể bỏ qua từ vựng và ngữ pháp. Từ vựng thì không thể liệt kê ở đây được, chỉ có thể liệt kê ngữ pháp. Sau đây là một số cấu trúc câu thường dùng: “dễ dàng chứng minh” ~> bài tập; “tương tự ta có” ~> thi; “các chương x, y, z các em về tự đọc” ~> thuyết trình.

Về mặt kiến thức, cần nắm (thật) chắc cơ lượng tử và cơ lý thuyết. Ở cơ lượng tử, ít nhất cũng hiểu rõ tại sao phải giải phương trình hàm riêng trị riêng, các bước giải của nó; đưa cho một thế bất kỳ phải giải được, không nhất thiết là giếng thế sâu vô hạn hay rào thế cao vô hạn; nắm được sự lượng tử hóa lần hai. Ở cơ lý thuyết, chỉ độc nhất mỗi nguyên lý tác dụng tối thiểu là phải hiểu. Đây là nguyên lý vô cùng đơn giản mà tinh tế. Tôi cũng rất thích nguyên lý này, nếu rảnh nhất định sẽ có bài riêng cho nó.

Ngoài ra cũng cần học vững vật lý chất rắn, tất cả các môn toán và … thể dục. Theo cuốn Luật trí não của John Medina:

Những người thường xuyên rèn luyện cơ thể thực hiện tốt hơn những người ngồi lỳ ở nhà trong những trắc nghiệm về trí nhớ dài hạn, khả năng lập luận, sự chú ý, cách giải quyết vấn đề, thậm chí thực hiện các nhiệm vụ được gọi là thông minh

Nhớ ăn sáng trước khi tới lớp. Hồi đó tôi có một phương châm là thà đến lớp trễ còn hơn nhịn ăn sáng. Xem ra cũng khá hiệu quả (áp dụng cũng rất thường xuyên :v)

Xem thêm cách thức hoạt động của não để nâng cao hiệu suất làm việc tại www.brainrules.net. Cuốn sách này hiện được bán rộng rãi tại các nhà thuốc, nhầm, nhà sách trên toàn quốc.

Khi đi học nhớ mang những cuốn sách liên quan để tiện tham khảo. Ví dụ như học vật lý chất rắn thì nhớ mang theo cơ lượng tử. Học cơ lưởng tử thì nhớ mang theo cơ lý thuyết vì sẽ có những ý tưởng tương đồng (cơ lượng tử không dùng hình thức luận Lagrange nhưng dùng hình thức luận Hamilton). Hãy ghi chú chi tiết. Nếu có câu hỏi, hãy chú thích lại, sau này sẽ trả lời được. Nói không phải khoe, nhưng tôi được 9.5 điểm môn tích phân lộ trình vì còn giữ một câu hỏi từ hồi học cơ lượng tử. Ra thi thầy hỏi đúng y chang câu đó. Hên :)))

Ngoài ra thì nên có một cái laptop để dễ dàng tìm tài liệu cũng như trao đổi học tập. Nếu được hơn nữa thì mua thêm một cái tablet để đọc sách và ghi chú thẳng trên đó luôn (ghi chú bằng viết). Rất rất tiện. Nội chuyện mua sách photo cũng tốn nhiều tiền và nặng cặp (một cuốn như Landau khá nặng và dày, hơn nữa sẽ khó mang sách khác để tham khảo), khi học có gì không hiểu google ngay. Tuy nhiên khi đọc sách bình thường tôi vẫn khuyến khích đọc sách giấy.

photo 2photo 1

Năm ba sẽ được học các môn: cơ lượng tử 2, lý thuyết nhóm, lý thuyết trường điện từ (kiêm thuyết tương đối hẹp), lý thuyết chất rắn, lý thuyết trường hấp dẫn (thuyết tương đối rộng), lý thuyết trường lượng tử, hệ thấp chiều và hệ nhiều hạt. Năm tư sẽ học các môn: hạt cơ bản, tích phân lộ trình, quang bán dẫn và quang lượng tử, vật lý tính toán, hàm suy rộng và hàm Green.

 

Tất cả các môn sẽ được giới thiệu kỹ, tôi không cần phải nói trước làm gì. Riêng ba môn tôi muốn nói rõ hơn. Thứ nhất và thứ hai là tích phân lộ trình và lý thuyết trường hấp dẫn. Chúng sẽ cho ta thấy được sự điên khùng và đầy tài năng của Feynman và Einstein. Người ta cứ nghĩ cơ lượng tử và cơ tương đối khác biệt hoàn toàn so với cơ cổ điển, thật ra chúng có thể được dẫn dắt từ cơ cổ điển. Nguyên liệu chính là nguyên lý tác dụng tối thiểu. Với nguyên liệu đó, rắc một chút tiêu sẽ ra cơ lượng tử, rắc một chút muối sẽ ra cơ tương đối. Hai môn này thể tài năng của những con người vĩ đại, những môn kia là công sức của một tập thể to lớn, trải dài nhiều thế hệ của các nhà khoa học.

Thứ ba là vật lý tính toán. Môn này sẽ đụng lập trình. Sau này nếu không học lý thuyết tiếp thì vẫn còn lập trình làm cần câu cơm. Cộng đồng khoa học trước đây xài FORTRAN, nhưng sau chuyển sang Python. Một script của Python rất sáng sủa, nhiều chương trình dành riêng cho Python như Matplotlib (vẽ đồ thị), PyMOL (vẽ phân tử, cho ai theo hướng vật lý sinh học), v.v. Cùng một môi trường thì vùng vẫy đã hơn. Tuy nhiên dùng những ngôn ngữ khác cũng được, nếu ai có ý định đi sâu về lập trình. Với những ai như vậy, C hay Java tốt hơn.

Ngoài ra cũng nên tập xài thử Latex. Đây là ngôn ngữ dùng để viết bài báo khoa học. Word đánh cũng không sao, có khi còn đẹp hơn, nhưng nó sẽ chạy chậm nếu đánh nhiều công thức. Tất cả các sách viết nhiều công thức đều phải dùng Latex.


1 Comment

Đàn ông nói “Uh”, đàn bà nói “Um”

Cách ngập ngừng là một dấu hiệu tinh tế cho biết tính cách và ý muốn nói của chúng ta.

Um, các câu. Tôi có một số điều muốn chia sẻ, và nói trước, đó là nó, uh, sẽ làm cho các cậu để ý kỹ hơn cách các cậu nói trong vài ngày tới.

Bạn có biết là khi bạn bắt đầu kiếm một từ, hoặc định nói một điều gì đó nhẹ nhàng hơn ý thật sự của bạn, hoặc đang cố gắng động não là bạn đã thật sự nói rồi không? Mỗi khi bạn nói “um” hay “uh” trong những trường hợp như vậy là có thể phụ thuộc vào việc bạn là nam hay là nữ.

Khi ta ngưng nói là lúc đó ta thật sự nói: “giống” như khi một giáo viên văn lớp tám sẽ nói với bạn, làm cho người nói có giọng trẻ và khác biệt (???), “kiểu như” thể hiện sự không chắc chắn. Nhưng theo như nhà ngôn ngữ học Mark Liberman, người làm tại trường Đại học Pennsylvania và blog trang Language Log, ngay cả sự khác biệt rất nhỏ như “um” và “uh” cũng cung cấp manh mối cho giới tính của người nói, khả năng ngôn ngữ và thậm chí là kinh nghiệm sống.

Trong phân tích của anh ấy, Liberman đã phân tích 14,000 cuộc nói chuyện qua điện thoại được ghi âm lại, trong đó bao gồm hơn 26 triệu từ và đến từ khoảng 12,000 người từ khắp nước Mỹ.

Vào thời điểm năm 2005, anh ấy đã thấy mức độ sử dụng “uh” tăng lên theo tuổi, nhưng tại bất kỳ độ tuổi nào, đàn ông luôn nói nhiều hơn phụ nữ. Trong khi đó, mức độ dùng “um” giảm theo tuổi, nhưng nữ lại nói nhiều hơn nam trong mỗi giai đoạn cuộc đời.


Mức độ sử dụng “Uh” và “Um” giữa đàn ông và phụ nữ

Tần số sử dụng uh/um, theo độ tuổi, tỉ lệ với tần số sử dụng mạo từ “the”. (Mark Liberman)

Một cách tổng quát, anh ấy thấy phụ nữ nói “um” nhiều hơn 22 phần trăm so với đàn ông, nhưng đàn ông nói “uh” nhiều gấp đôi so với phụ nữ. Một nghiên cứu năm 2011 của Eric Acton cho kết quả tương tự.

Khi hai giới tính nói chuyện với nhau, họ cố gắng đến với nhau: “Nam dùng uh ít hơn khoảng 14 phần trăm khi họ nói chuyện với nữ hơn là nói với nam, và nữ dùng uh nhiều hơn khoảng 20 phần trăm khi nói với nam hơn là nói với nữ”. Liberman viết. (Không có nhiều điều chỉnh như vậy với “um”.)

Cái Liberman tìm thấy, về cơ bản, là đàn ông trẻ tuổi nói chuyện giống như phụ nữ lớn tuổi.: “Tỉ lệ sử dụng “um” của đàn ông trẻ gần như giống với tỉ lệ dùng “um” ở phụ nữ lớn tuổi”.

Khó để xác định cái chính xác mà điều này nói về cách mà hai giới tính nghĩ về chính họ – hoặc lời của họ. Một bài báo năm 2001 tìm thấy đàn ông sử dụng tất cả các “bộ lọc ngôn ngữ” nhiều hơn so với phụ nữ. Nhưng một nghiên cứu công bố vào tháng sáu lại cho thấy trong khi đàn ông và phụ nữ nói “um” hoặc “uh” ngang nhau, phụ nữ lại nói “you know”, “lkie” và “I mean” nhiều hơn. Nghiên cứu đó gợi ý rằng người sử dụng những loại “từ diễn ngôn” (discourse marker) đó có nhiều đồng cảm và tận tâm hơn—hai đặc điểm mà phụ nữ thường được nghĩ sẽ biểu hiện do bị xã hội hóa (two traits women are often thought to be socialized to exhibit)

Liberman cũng chỉ ra rằng “um” và “uh” thể hiện tính lưu loát và thông minh khác nhau trong ngôn ngữ. “Người ta thường dùng UM khi họ đang suy nghĩ nên nói cái gì, và UH trong khi họ suy nghĩ nên nói như thế nào,” anh nói với tôi qua email. “Khi người ta già đi, họ gặp ít khó khăn hơn trong việc xác định phải nói cái gì (vì họ biết nhiều hơn), và nhiều khó khăn hơn trong việc nói như thế nào (vì họ biết nhiều từ và cụm từ cố định, và vì thế gặp khó khăn hơn trong việc chọn lựa). Kết quả là, về già người ta dùng ít UM và nhiều UH.”

Như vậy, có một giả thuyết là, “Tại bất kỳ độ tuổi (trưởng thành) nào, đàn ông có nhiều kinh nghiệm trong ngôn ngữ hơn phụ nữ, nên họ dùng UM và UH như thể họ lớn tuổi hơn,” anh nói. “HOẶC CÓ THỂ: Phụ nữ có nhiều thận trọng trong giao tiếp hơn đàn ông, vì thế có xu hướng ngưng lại trước khi quyết định mình sẽ nói điều gì; nhưng vì phụ nữ nói lưu loát hơn đàn ông, và vì thế ít khả năng ngưng lại để xác định từ cần dùng.”

Một nghiên cứu năm 2000 cho thấy người ta dùng “um” cho đoạn ngưng dài và “uh” cho đoạn ngưng ngắn, vì thế có lẽ phụ nữ có ý gợi ý một đoạn ngưng dài. Phụ nữ cũng dùng “những tiếng tán thành nho nhỏ” (assenting murmurs) nhiều hơn trong cuộc hội thoại—uh-huhs và mm-hmms—và họ cười nhiều hơn 60 phần trăm so với đàn ông. Có thể cái “um” với cái mmm dài, với sự cân nhắc cẩn trọng và với sự khôn khéo trong đó, đơn giản là sự mở rộng toàn bộ lòng chân thành của phụ nữ về mặt ngôn ngữ. Trong một phân tích về các từ và tiếng được dùng thường xuyên nhất ở các cuộc hội thoại giữa nam và nữ, Liberman thấy rằng thứ giúp phân biệt rõ nhất phụ nữ là “[tiếng cười]” và cho nam là “uh”. Các từ “gosh” và “goodness” có trong danh sách của nữ, trong khi “shit” thậm chí còn xuất hiện ở danh sách của nam.

 
Liberman ghi chú, điều này khớp với một nghiên cứu năm 2013 phân tích các bài viết trên Facebook của nam và nữ và thấy rằng nam có thể được nhận dạng bằng “fuck”, “wishes”, và “xbox”, trong khi nữ nổi bật với các từ như “shopping”, “excited” và “<3”.


Các từ trên Facebook có liên quan nhiều nhất, theo giới tính

Các từ có liên quan nhiều nhất tới các bài viết của nữ (trên) và nam trên Facebook.(PLoS)

Facebook dĩ nhiên không phải là nơi thể hiện tính một – một của lời nói thật, nhưng nó cho thấy ngay cả khi họ chỉ có một mình, đàn ông thường rất ít quan tâm đến việc biểu lộ hạnh phúc, sự dễ chịu hay “chúc phúc”.

Phụ nữ cũng có xu hướng tiên phong trong ngôn ngữ, mở ra nhiều sự thay đổi trong việc chọn từ một thời gian lâu trước khi đàn ông bắt đầu bắt kịp, Liberman nói. Vì thế cũng có thể “um” đang được sử dụng nhiều hơn “uh” cho tất cả mọi người, và phụ nữ chỉ đơn giản là đang dùng trước.

 
Có một chút sốc khi một số tật trong lời nói đã được nhắc đến trong các lời khuyên của Sheryl Sandberg cho nữ lãnh đạo là họ nên cười nhiều hơn và làm nhiều hơn cho cộng đồng hơn những đồng nghiệp nam của họ.
 
It’s a little shocking how reminiscent some of these verbal quirks are of Sheryl Sandberg’s admonishments to female leaders that they should smile more and act generally more communal than their male counterparts.

There’s probably no overcoming these little rhetorical flags for the long-term. (Going back to the eighth-grade teacher, remember how her threats to deduct points for every “like” in a class presentation only made you say it more?)

Still, I think it might be fun to try to speak like a man for a day. By which I mean, “Uh, I wish I could go play my fucking xbox.”

Dịch lại từ bài viết Men Say ‘Uh’ and Women Say ‘Um’ của tác giả Olga Khazan đăng trên tạp chí Atlantic, ngày 8/8/2014. http://www.theatlantic.com/health/archive/2014/08/men-say-uh-and-women-say-um/375729/


Leave a comment

Danh sách các danh sách liên quan tới vật lý

Danh sách là để liệt kê. Có nó thì mình sẽ dễ dàng có được một cái tổng quan trước mắt. Nhưng có danh sách các danh sách thì mới là xịn :))

http://en.wikipedia.org/wiki/Outline_of_physics. Kéo xuống phần List.

Trong đó có cái này cũng khá hay: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_important_publications_in_physics