Ooker's blog

Tôi và thế giới


Leave a comment

Làm sao để mỗi ngày đều có thể học được một chút tiếng Anh?

Ngày xưa, không biết tiếng Việt là mù chữ. Còn bây giờ, không biết tiếng Anh mới là mù chữ. Tôi quá ngán những bài viết hướng dẫn kinh nghiệm học tiếng Anh chung chung trên mạng. Gần như tất cả đều chỉ chăm chăm lo SEO. Ai chả biết là học nói thì phải mạnh dạn nói, hay muốn nghe giỏi thì phải luyện phim nhiều. Chẳng có cách thần kỳ nào có thể khiến người ta học nhanh chóng cả. Học ngôn ngữ không cần phải khổ luyện, học ngôn ngữ cần thấm. Nghĩa là phải từ từ, ngày qua ngày, tích tiểu thành đại. Phải làm sao để mỗi ngày đi học đều là một ngày vui.

Tuy nhiên tôi công nhận là trước khi đi thi thì cũng nên khổ luyện :))

Vấn đề không phải là chúng ta không biết cách học, mà là không có nhu cầu sử dụng tiếng Anh hằng ngày. Để so sánh, nó cũng giống như những người thuận tay phải không có nhu cầu dùng tay trái hằng ngày vậy. Nếu bạn thấy thật vô lý và không cần thiết khi bắt một người thuận tay phải phải dùng tay trái để ủi đồ thì bạn sẽ hiểu được tại sao mình học mãi mà vẫn không khá. Trước khi làm khóa luận tốt nghiệp, tôi cũng có đọc nhiều sách báo tiếng Anh. Phải nói một cách thẳng thừng là trong lớp vật lý, tôi là một trong số ít người có thể nhanh chóng đọc tài liệu tiếng Anh. Nhưng khi bắt tay vào làm khóa luận, tôi gặp một vấn đề về chương trình tính toán và buộc phải hỏi người tác giả của nó. Đó gần như là lần đầu tiên tôi phải viết email bằng tiếng Anh. Một email bé xíu, dễ ẹc mà phải gãy cả tay tôi mới viết xong. Nhưng từ đó, nhờ những thứ như vậy mà bây giờ tôi viết tiếng Anh không còn khó khăn như trước nữa. Lỗi vẫn còn rất nhiều, nhất là lỗi ngữ pháp, nhưng tiếng Anh không còn là rào cản để tôi trình bày ý tưởng nữa. Chúng đã có thể được tuôn trào dễ dàng hơn. Lão Tử có nói, con đường vạn dặm bắt đầu từ một bước chân. Để có thể ủi đồ bằng tay trái, việc đầu tiên bạn cần làm là cầm bàn ủi bằng tay trái. Nhưng chưa đủ, phải ngày nào cũng cầm bàn ủi bằng tay trái mới được.

Cái email ở trên cũng có thể coi là cột mốc đầu tiên đưa ánh sáng của internet đến với đời tôi, dù tôi đã biết nối dây điện thoại vào modem lên mạng đọc manga từ hồi lớp 7.
À mà tôi cầm bàn ủi bằng tay trái được nhé :3

Thôi, không nói lằng nhằng nữa, vào việc chính thôi. Ở đây, tôi liệt kê ở đây ba bài viết chia sẻ kinh nghiệm học tiếng Anh trên báo Tuổi Trẻ, Scholarship Planetblog của Nguyễn Văn Tuấn mà tôi cảm thấy rất đáng đọc. Tôi không muốn mình phải mất công lặp lại những gì người khác nói (hãy luôn khao khát, hãy luôn google). Thay vào đó, ở đây sẽ chỉ cho bạn những mẹo nhỏ để bạn thấy vui (hay ít ra không thấy ngán) khi học tiếng Anh mỗi ngày.

1. Đặt từ cần học làm mật khẩu

Kẻ gian có thể đoán mật khẩu từ ngày bạn sinh hoặc ngày vợ bạn sinh, nhưng chắc chắn sẽ không đoán mật khẩu bằng cách tra từ điển Oxford 171,476 từ. Và cái sự lằng nhằng khi bị quên mật khẩu sẽ khiến bạn không muốn quên. Chưa kể học thuộc một từ rồi thì sẽ phải thay từ mới, nên mật khẩu được đổi thường xuyên ~> rất bảo mật. Có thể biến tấu từ một chút để bảo mật hơn. Ví dụ như bạn đang học từ Obligatory thì có thể biến nó thành 0bliGatory. Cũng có thể thêm nghĩa vào phía sau để tránh trường hợp nhớ mặt chữ mà không nhớ nghĩa, ví dụ như 0bliGatory-batbuoc. Một mật khẩu tốt là một mật khẩu dễ nhớ với mình mà khó đoán với người. Có thể áp dụng cho nhiều tài khoản khác nhau như Facebook, email, Apple ID, v.v.

2. Dùng phần mềm Anki

Phải cho đến khi bắt đầu bắt đầu luyện GRE, tôi mới biết tới phần mềm này, qua các bài chia sẻ kinh nghiệm (như cái bài này) của các anh chị đi trước. Phải nói là tuyệt vời, thật đáng tiếc khi tôi không biết phần mềm này sớm hơn. Nhồi 5000 từ ít gặp trong vòng vài tháng để thi GRE là gần như bất khả. Quả thật, điểm thi verbal của tôi chỉ có 146/170 (thấp nhất 130), đứng trong top 85% người đi thi =)). Tuy nhiên thật sự là từ khi luyện GRE mà tôi bắt đầu cảm nhận được sự tinh tế trong tiếng Anh, và từ đó biết rằng không chỉ có mỗi tiếng Việt mới uyển chuyển tinh tế đầy cảm xúc. Do phải luyện thi gấp nên tôi phải tăng liều, ngày hai lần, sáng một deck chiều một deck. Nếu các bạn thư thả thì ngày một lần là đủ. Nhớ chỉnh sao cho mỗi lần bật máy thì chương trình này cũng bật lên theo. Có thể có ngày quên tắm chứ không bao giờ quên bật lap. Tuy nhiên tôi nghĩ nếu có một thời gian trong ngày mình luôn mở máy thì nên chỉnh sao cho chương trình tự động chạy vào giờ đó, ví dụ như 9h tối. Có một giờ cố định thì mình sẽ tạo được thói quen tốt hơn.

Anki cũng có plugin cho HabitRPG, một game xây dựng thói quen mà tôi khuyến khích bạn thử cho biết.

3. Xem phim, nghe nhạc, đọc báo

Cái này thì điển hình rồi, cũng dễ thực hiện. Nhiều người nói là không nên đọc lời hoặc coi phụ đề. Tôi cũng đã thử, nhưng thấy cũng hên xui. Nghe nhạc coi phim là để bạn xóa cái cực khổ khi học tiếng Anh bằng cách gắn tiếng Anh vào cảm xúc có được khi nghe hoặc xem. Vấn đề là nếu bạn không hiểu được người ta đang nói hay hát cái gì thì cảm xúc cũng không được mạnh mẽ cho lắm. Tới giờ này, dù đã có thể gọi là xem clip trên YouTube cũng được, nhưng mỗi lần bật bài mới vẫn chưa chắc nghe được hết (cũng có thể là do tôi không tập trung nghe mà hay làm chung với cái khác). Nói chung thì tôi thấy xem phụ đề hay đọc lời bài hát nhiều khi còn dễ học hơn, miễn nó viết bằng tiếng Anh là được. Đọc báo cũng được. Hồi trước tôi đặt CNN làm trang chủ, nhưng vì tin tức của nó, hay thì hay thiệt, nhưng thấy nhiều cái không liên quan quá. Dù sao thì nó cũng là hãng tin của Mỹ, tin nó cung cấp phù hợp cho dân Mỹ hơn dân Việt Nam. Nên sau này tôi chuyển sang đọc tạp chí. The Atlantic là lựa chọn số một của tôi (hình như cũng là tạp chí số một của Mỹ thì phải). GS Ngô Bảo Châu cũng theo dõi tạp chí này. Từ mới xuất hiện vừa đủ, không quá ít không quá nhiều. Chủ đề đa dạng, nhiều cái vừa chuyên sâu lại vừa sát sườn. Còn không thì có thể lên Digg để đọc tin tổng hợp.

Tôi cũng có dịch một bài trên The Atlantic: Đàn ông nói Uh, đàn bà nói Um.

Hoặc cũng có thể theo dõi mấy kênh YouTube hay hay. Tôi thì thích khoa học nên hay theo dõi Veritasium, Vsauce, TED (TED thôi, TEDx đa phần không đặc sắc lắm). Ai thích chơi game thì theo dõi mấy trận đấu bình luận bằng tiếng Anh. Hoặc vẽ vời, hoặc trồng bonsai, hoặc đá banh, v.v. Chốt lại bạn phải quên rằng mình đang học tiếng Anh.

Nhờ nghe bài Don’t you remember của Adele, mà toi sẽ nhớ mãi từ earness có nghĩa là tha thiết, còn throb có nghĩa là nhói.

4. Đặt thật nhiều câu hỏi

Cụ thể là trên Stack Exchange. Stack Exchange là thiên đường đối với tôi. Tôi dám cá là trong vòng một năm qua, trừ Google, nó là trang web tôi ghé thăm nhiều nhất trên internet, hơn cả Facebook. (Thật ra, từ khi tìm ra Stack Exchange và sau này là Reddit, tôi cảm thấy Facebook chán phèo. Cẩn thận, chúng có thể khiến bạn thâm quầng mắt và đau bao tử đấy.) Thường các câu hỏi về tiếng Anh tôi hỏi trên đây là về sự khác nhau giữa các từ đồng nghĩa, như là “alacrity”, “fervor”, “zeal” và “fanaticism” khác nhau thế nào?. Khi mình bắt đầu đặt câu hỏi là khi đó mình đã học thêm một chút rồi.

5. Kiếm một người bạn bản xứ cần học tiếng Việt

Cái này gọi là trao đổi ngôn ngữ – language exchange. Đầu tiên là tôi biết đến Lang-8 từ Stack Exchange, được mọi người sửa bài cho mình cũng thấy hay. Nhưng sau khi mất hết lượt miễn phí, phải trả tiền nếu như không muốn ít người coi bài mình đăng lên hơn thì lúc đó mới biết là mô hình này khó hiệu quả nếu ngôn ngữ bạn đang học là tiếng Anh. Số người biết nói tiếng Việt muốn học tiếng Anh quá lớn, áp đảo số người biết tiếng Anh muốn học tiếng Việt.

Reddit là giải pháp cho vấn đề này.

Tuy vậy, rốt cuộc thì tôi cũng kiếm được một bạn trên italki. Thoắt một cái, nhờ Reddit, từ tinh trùng tôi đột nhiên trở thành trứng :”>.  Bạn có thể xem bài sửa của bạn ấy cho hồ sơ nộp VEF của tôi: Personal StatementAcademic Statement. Vậy còn những bạn muốn trao đổi ngôn ngữ với tôi trên Reddit, không lẽ quảng cáo xong tôi lại từ chối?

Facebook là giải pháp cho vấn đề này :v

Một lần nữa, tôi lại có cảm giác được làm trứng. Tuyệt :3. Quả trứng này mai mối những con tinh trùng lại với nhau :3

.

Vậy thôi. Nếu còn thấy cách nào hay hay tôi sẽ lại cập nhật thêm.


Leave a comment

Khí công – Sự thật và những điều ngộ nhận

Tôi là người tập khí công từ nhỏ, với mục đích trị bệnh hen suyễn và đã khỏi hoàn toàn. Phương pháp này tôi học của một người quen với ông nội tôi, tôi gọi bằng chú. Chú không nhận làm thầy tôi, và không muốn nói tên, nên tôi không nói, chứ không phải chối bỏ nguồn gốc.

Thời gian gần đây, tôi nhận ra nếu không nói rõ bản chất của khí công, thì người bình thường sẽ nhắm mắt chối bỏ nó một cách mù quáng, bỏ qua một phương pháp duy trì sức khoẻ một cách hiệu quả, bồi đắp đến tận gốc rễ của cơ thể.

Vì thế, tôi viết bài này nhằm mục đích giải thích trực tiếp thông qua kinh nghiệm tu tập bản thân. Hy vọng những bạn đọc có quan tâm đến vấn đề này sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về bản chất của khí công và việc tập khí công.

Đây là bài giải thích sơ lược về bản chất của khí công, chứ không nói về phương pháp tập.

I. Một vài điều cơ bản về khí công

Bài tập khí công sơ cấp thực ra rất đơn giản, sách vở và phim ảnh nói đầy rẫy, trên Internet cũng có. Vì thế đây là một bài viết ngắn gọn tôi viết theo như tôi hiểu, viết ra các định nghĩa này theo kinh nghiệm và trực giác của mình (chưa chắc đã chính xác 100%, nhưng ít nhất là có kiểm chứng). Lý do tôi làm thế vì:

  1.  Đa số các thầy từ xưa nói về khí đều dùng thứ ngôn ngữ Đạo gia hay Phật gia huyền bí.
  2.  Sau thế hệ các cao thủ khí công thực sự, thì các thầy thuộc về thế hệ sau chủ yếu là tập theo động tác, kinh nghiệm của thế hệ trước theo kiểu cầm tay chỉ dạy, ít chịu học nguyên lý, vì thế lý luận khí công thường là lệch lạc, chắp vá và không kiểm chứng bằng thực tế được.
  3.  Đa số các sách dạy khí công thế hệ sau này toàn là nói láo, lẫn lộn nhập nhằng khí, không khí, máu, oxygen …etc.., lập lờ đánh lận con đen, cố gắng giải thích khí công bằng y học phương Tây, nhưng thực ra hai thứ đó không phải là một.

Những thứ lý luận loằng ngoằng, cao siêu về Ý và Khí người ta viết chán rồi. Hồi tôi 18 tuổi cũng có viết một bài, giờ đọc lại thấy hơi buồn cười, mặc dù cũng không có sai sót gì nghiêm trọng, ít nhất là hơn mấy bố viết sách khí công bán lấy tiền bây giờ ở Việt nam:

http://hanoicorner.com/Forum/viewtopic.php?f=68&t=1663&sid=86f129f3b1fdfdaeb5efbd272ca8d642

Vì thế, ở đây tôi diễn giải đơn giản theo cách hiểu của tôi.

Khí, viết theo tiếng Hán, không phải là không khí mà là năng lượng, như từ khí trong Điện khí hoá, Cơ khí hoá …etc…

Năng lượng này ở đâu mà có? Trong Đạo gia, người ta tin rằng khi con người ta sinh ra từ cơ thể người mẹ, thì trong người đã có năng lượng thừa hưởng từ người cha và người mẹ, và từ trong trời đất, gọi là năng lượng tiên thiên. Về sau khi con người ta hít thở, ăn uống tạo nên năng lượng cho mình để lớn lên và phát triển thì gọi là năng lượng hậu thiên. Trong sách về khí công hay truyện chưởng thường viết đó là Tiên thiên chân khí và Hậu thiên chân khí. Phật gia khi truyền từ Ấn Độ sang Trung quốc cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng này. Phật giáo ở Ấn Độ bắt nguồn từ đạo Hindu thì tư tưởng có khác biệt rõ rệt. Đây chính là lý do các phương pháp tập Yoga, nội lực của Ấn Độ và Phật giáo truyền từ Ấn Độ lên Tây Tạng (Mật tông) hoàn toàn khác biệt với các phương pháp tập của Trung quốc.

Khí công Đạo gia và Phật gia tin rằng năng lượng tiên thiên của con người là năng lượng thuần khiết nhất, và có mạch nối liền với vũ trụ, nên người tập khí công phải tìm cách bảo trì năng lượng tiên thiên, năng lượng hậu thiên chỉ có vai trò duy trì và bù đắp những mất mát trong quá trình con người phát triển. Chính vì thế nên khí công Đạo gia và Phật gia mới chủ trương giữ gìn tinh khí, luyện đồng tử công, bế dục hoặc hạn dục để duy trì năng lượng ở mức cao và tập thành cao thủ.

Luyện khí theo kiểu Đạo gia hay Phật gia Trung Quốc là tích luỹ khí (năng lượng), cố bản bồi tinh (tìm cách tránh thất thoát năng lượng tiên thiên, bồi bổ bằng năng lượng hậu thiên thông qua ăn uống, hít thở). Sau đó quá trình luyện tinh hoá khí là dùng các động tác luyện tập khí công kết hợp với hơi thở để biến đổi tinh (vật chất) thành khí (năng lượng), đồng thời thay đổi về chất cấu trúc của cơ thể.

Tinh ở đây nên hiểu là những tinh hoa vật chất của cơ thể, hoặc là do sinh ra có sẵn một ít, hoặc là do quá trình trao đổi chất, ăn uống hít thở của cơ thể tạo nên. Từ tinh hoa vật chất này, mới sinh ra năng lượng, da, thịt, tóc v.v…

Chính vì Khí được chuyển hóa từ tinh chất này nên nếu luyện Khí quá mức hay luyện nhiều lần thì nó phải rút tỉa tới những tinh chất có sẵn trong cơ thể như tủy sống, do đó sinh ra suy nhược hoặc bất lực là như vậy.

Khi tinh không bị thất thoát, khí được tích luỹ đầy đủ thì thần (tinh thần) của con người sẽ được nâng lên một tầm cao mới. Lúc đó ý chí con người trở nên kiên định, khả năng hoạt động của não cao, cơ thể khoẻ mạnh nên con người có thể làm nên những kỳ tích mà đối  với người thường là phép lạ.

Tôi không muốn nói ví dụ cụ thể về bản thân về những gì tôi đạt được khi tập khí công. Hy vọng là riêng chuyện tôi chữa khỏi bệnh hen suyễn kinh niên rất nặng của mình cũng nói lên được điều gì.

Đoạn trên là tóm tắt của Luyện tinh hoá khí, Luyện khí hoá thần. Tôi chưa qua các mức khác nên không dám nói.

II. Những ngộ nhận về tập khí công

1. Tập khí công khó khăn, huyền bí

Khí công về mặt bản chất không có gì khó khăn, huyền bí cả. Cách tập ở mức cơ bản chỉ là dùng hơi thở hoà hợp với vận động của cơ thể, kích thích, co nén nội tạng, nhận biết được hơi thở và vận động, đồng thời luyện lắng nghe cảm giác của mình đối với nội tạng.

Con người ta từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, hầu như ai cũng tập thể dục, lao động tay chân, cơ bắp, nhưng không luyện nội tạng. Do đó nội tạng cứ hoạt động qua tháng ngày rồi chết, không được luyện tập. Luyện khí công chính là luyện nội tạng.

Nói thì huyền bí, nhưng bước đầu tiên, cơ bản thì chính là tập thở, ai cũng tập được.

2. Tập khí công mất thời gian

Khi nói đến tập khí công, đa số người bình thường nghĩ đến ngồi thiền, quán tưởng, thở hít phì phò, khua tay khua chân hàng tiếng đồng hồ.

Mức cơ bản tập khí công của tôi cho đến khi chữa hoàn toàn bệnh hen suyễn là mỗi ngày luyện 6 hơi thở. Lúc hơi thở ngắn, thở ra 10 giây, hít vào 10 giây là 20 giây một hơi thở ra hít vào, tổng cộng 6 lần thở ra hít vào là 20 giây x 6 = 120 giây = 2 phút.

Sau này hơi thở tôi dài ra 1 phút rưỡi một lần thở ra hít vào, thì 6 hơi thở mất 3 phút  x 6 = 18 phút. Nhưng đó là tôi tập thêm phần kinh mạch về sau, còn người bình thường tập bài khí công như tôi từng tập thì hiếm có ai mất quá 4 phút một ngày.

Tất nhiên tập khí công trong võ thuật thì lại khác nữa, ví dụ như có lời đồn tôn sư Diệp Vấn tập bài Tiểu Niệm đầu mất từ 45 phút cho đến 1 tiếng. Chuyện này thật giả không biết, chứ cá nhân tôi luyện riêng phần tụ khí (là phần 1 trong 3 phần tụ khí, xả khí và dụng khí của bài Tiểu Niệm đầu) là đã mất hơn 30 phút.

Thời cổ đại người ta dùng cưa tay, cưa cây cổ thụ hết mấy ngày. Giờ ta dùng cưa máy, cưa cây cổ thụ một phát là đứt, nên chuyện tập khí công ngày mấy tiếng chỉ có ở thời Xuân Thu Chiến quốc, chứ vào thời cuối Thanh, đầu Dân quốc, nghiên cứu về Đạo gia Khí công đã tương đối hoàn chỉnh, con em quý tộc vùng An Huy, Phúc Kiến Trung quốc đến sau 17 tuổi là hoàn thiện toàn bộ phần luyện tinh hoá khí. Những kỹ thuật còn truyền về sau này, công năng là tính bằng phút, chứ không tính bằng tiếng đồng hồ nữa.

Tập khí công cho sức khoẻ thì rất ít ai cần tập hơn 4 phút một ngày, mà thậm chí là không nên luyện hơn 4 phút một ngày, lý do tôi sẽ giải thích tiếp ở dưới.

3. Tẩu hoả nhập ma khi tập khí công

Nhiều người cả đời chả bao giờ đọc một sách khí công, đông y nào nghiêm túc, chưa từng gặp một ai có tập qua khí công, chỉ đọc truyện chưởng, nhưng khi nói đến khí công thì hễ mở mồm ra là phán y như đúng rồi.

Luyện khí công rất dễ, nhưng chính vì nó quá dễ nên ít người chịu nghe dặn dò và làm theo cái dễ đó một cách nghiêm túc, mà đa số là xảy ra một trong hai trường hợp sau:

  • Thấy dễ quá, tập chơi cho biết, tập dăm bữa nửa tháng không thấy gì rồi bỏ. Trường hợp này là còn tốt.
  • Thấy dễ quá, tập nhẹ quá, không thấy mệt, nên tăng liều lượng tập lên. Ví dụ như nhiều người tập trong khoảng thời gian mấy tháng đầu tiên, căn cơ chưa vững, không thấy gì, nghĩ là tập hít vào thở ra 6 lần chưa ngon, tăng lên 12 hơi thở chắc ngon hơn.

Đây chính là nguyên nhân gây hại khi tập khí công. Thời gian ban đầu chính là thời gian để luyện tinh hoá khí, tức là luyện vật chất của cơ thể ra năng lượng. Nếu cơ thể sinh ra vật chất không kịp, thì quá trình này sẽ luyện vào nguyên tinh cốt lõi của cơ thể. Cá nhân tôi đã quan sát được hai người bị rối loạn huyết áp và nhịp tim khi tập quá độ trong một thời gian dài. Họ tập vài tháng đầu không thấy gì, sốt ruột muốn nhanh, tập tăng cường độ và bị ảnh hưởng ngay. Có một người cũng tập như vậy, và bị giảm khả năng hoạt động sinh lý.

Nhưng tập đúng trong khuôn khổ, thì khí công sẽ bồi đắp căn cơ, cốt lõi và nội tạng của cơ thể, làm cho cơ thể khoẻ mạnh và hoạt động hiệu quả hơn.

Vì thế Đạo gia mới nhấn mạnh vào “Dục tốc bất đạt” và “Hữu sở cầu tất hữu sở thất”. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi và quan sát nhiều người tôi hướng dẫn trong vài chục năm nay, rải rác ở Việt nam, Đức và Mỹ, thì chỉ cần cẩn thận, nghiêm túc tập đúng 6 hơi thở, chứ Không Phải là 5 hơi, 7 hơi hay 12 hơi, thì sẽ có kết quả khi tập đủ ngày tháng (9 tháng – 1 năm), chứ không có vấn đề gì. Hôm trước ngồi chơi với một cậu bạn có kinh nghiệm nghiên cứu Dịch số, Phong thuỷ, cũng có nói về hồi trước cậu ấy đi tập Thiền, người thầy cũng nói về chuyện củng cố căn cơ bằng 6 hơi thở. Có lẽ để ra được con số 6 này, cũng phải tốn nhiều mạng tôn sư, “tẩu hoả nhập ma” mất nhiều người rồi thì mới đúc rút ra được.

Nhưng theo cá nhân tôi, cứ tà tà mà tập, đừng mong cầu, sốt ruột, đúng ngày đúng tháng sẽ có kết quả. Quan trọng nhất là ngày nào cũng phải tập, công phu là cần đều chứ không cần nhiều.

4. Khí công cao là võ thuật cao

Đây là một ngộ nhận nguy hiểm. Khí công là luyện nội tạng bên trong. Nó trợ giúp cho vận động và việc sinh ra năng lượng, lực của cơ thể. Nhưng để đem ra đánh người thì gân cơ bên ngoài cũng phải bền chắc để chịu va đập, phải có ý thức về quyền cước qua lại thì mới đánh người được.

III. Tóm tắt vấn đề

Luyện khí công không khó khăn, huyền bí, cũng không tốn thời gian. Người thông thường chỉ cần luyện từ 2 đến 4 phút một lần tập, mỗi lần tập chỉ thở 6 hơi thở hít vào + thở ra, mỗi ngày tuyệt đối không nên tập quá 2 lần.

Tập khí công chỉ cần đều, ngày nào cũng tập. Nên chọn một cữ nhất định để tập, ví dụ hôm nay mình tập buổi tối thì hôm sau cũng tập buổi tối, cứ thế kéo dài mãi hàng tháng, hàng năm, thời điểm có thể xê xích, nhưng đừng xê xích nhiều quá.

Người xưa có tổng kết về 4 thời điểm có thể chọn để tập khí công tốt nhất trong ngày, nhưng tôi không nói cho khỏi loãng. Hơn nữa thời hiện đại, mấy ai làm chủ hoàn toàn giờ giấc, nên miễn đúng cữ, đừng xê dịch quá, ví dụ đừng có hôm thì tập tối, hôm thì tập trưa, hôm thì tập sáng, thế là được.

Tập khí công nếu làm đúng số lần, không nhiều hơn, không ít hơn thì không có nguy hiểm. Nhưng những người tôi quan sát qua hàng chục năm nay thì hễ tập không đều hoặc ít hơn là không kết quả, còn những người cố tập tăng cường độ lên, thì TOÀN BỘ đều bị bệnh và có vấn đề tim mạch, huyết áp, sinh lý.

Tập khí công dễ, chính vì dễ mà không ai làm, hoặc làm theo mà không nghiêm túc. Theo quan điểm cá nhân của tôi, thì như thế cực kỳ có hại. Hại nhẹ nhất là trong vòng mấy tháng tự nhiên mỗi ngày mất mấy phút làm một việc vô tích sự. Hại nặng nhất là bệnh tật.

Nhưng trong đời cái gì cũng thế thôi, ít quá hoặc nhiều quá đều có hại. Quan trọng nhất là theo cái dễ mà làm đều đặn hàng ngày trong mức vừa đủ.

Hiện nay sách vở, tài liệu khí công nhiều, người tập khí công cũng nhiều. Vì thế khi chọn phương pháp tập, thầy tập thì nhớ quan sát hai điều:

  • Người thầy, phương pháp có lý luận rõ ràng, hợp lý hay không.
  • Người thầy, người viết sách có thành tựu gì, kết quả gì không.

Hai điều trên không có thì chính là nói láo, không nên tập. Phải có đủ cả hai. Thậm chí kể cả nếu người thầy có làm được một số kỳ tích, nhưng không giải thích được thì mình cũng không nên tập theo, vì sẽ không biết là có ảnh hưởng phụ gì hay không.

Khí công, cũng như cơm nước hàng ngày, ai tập thì người đấy khoẻ, ai ăn người đấy no, không tập giúp, ăn giúp được. Mỗi người nếu có quan tâm thì nên tìm hiểu nghiêm túc và chọn con đường cho chính mình, tập luyện kiên nhẫn, nghiêm túc và không nóng vội. Còn nếu không, thì không nên tập, vì vừa lãng phí thời gian, vừa có thể gây hại cho sức khoẻ.

Châu Hồng Lĩnh
Los Angeles, December 18th, 2013

Nguồn: Facebook của Châu Hồng Lĩnh


Leave a comment

Kinh nghiệm học vật lý lý thuyết

Đây là kinh nghiệm của tôi khi học ở bộ môn vật lý lý thuyết. Nói chung bộ môn nào cũng có những cái mới phải học và những cái khiến bạn bỡ ngỡ. Tôi sắp ra trường, hy vọng chút kinh nghiệm sẽ giúp bạn bớt bỡ ngỡ. Không nhắt thiết các bạn phải làm quen ngay từ bây giờ, hồi tôi học có ai chỉ lại đâu, vẫn học được như thường. Đọc cái này để các bạn mường tượng rõ hơn mình phải làm gì thôi. Còn chơi được thì cứ chơi :v. (Thật ra tới giờ vẫn còn ham chơi, năm ba còn ghiến Starcraft, năm tư ghiền cờ vây. Rốt cuộc là một tuần chắc chỉ có hai ba buổi là thật sự tự học ở nhà, còn lại chơi miết :v)


Hai thứ chắc chắn cần phải có khi vào đây:

  1. Đam mê
  2. Anh văn

Không có đam mê mà đâm đầu vô lý thuyết thì sẽ chết ngộp và chết ngạt. Không có đủ đam mê sẽ dễ dàng từ bỏ ngay từ những dòng suy luận đầu tiên. Cảm giác chinh phục được khó khăn thật vô cùng sung sướng, nhưng trước hết phải đụng mặt với khó khăn đã. Nó cũng giống câu: “ai cũng muốn lên thiên đàng, nhưng không ai muốn chết” vậy. 

Bộ môn lý thuyết không chỉ đơn giản là đào tạo ra người biết về vật lý mà còn đào tạo ra con người hiện đại, thích ứng tốt với mọi môi trường. Vì thế tất cả các các sách trong đó đều là sách tiếng Anh. Hai năm đầu các bạn toàn đọc sách tiếng Việt, bỗng dưng bị quăng một đống sách tiếng Anh, không kịp làm quen sẽ rất mệt. Lấy sách cơ lượng tử của thầy Hoàng Dũng làm thí dụ, viết tiếng Việt đọc còn chết lên chết xuống nói gì sách tiếng Anh. Đã phải đánh vật với tính toán và ý tưởng trong đó, còn phải đánh vật thêm với tiếng Anh sẽ mệt lắm. 

Học tiếng Anh thì không thể bỏ qua từ vựng và ngữ pháp. Từ vựng thì không thể liệt kê ở đây được, chỉ có thể liệt kê ngữ pháp. Sau đây là một số cấu trúc câu thường dùng: “dễ dàng chứng minh” ~> bài tập; “tương tự ta có” ~> thi; “các chương x, y, z các em về tự đọc” ~> thuyết trình.

Về mặt kiến thức, cần nắm (thật) chắc cơ lượng tử và cơ lý thuyết. Ở cơ lượng tử, ít nhất cũng hiểu rõ tại sao phải giải phương trình hàm riêng trị riêng, các bước giải của nó; đưa cho một thế bất kỳ phải giải được, không nhất thiết là giếng thế sâu vô hạn hay rào thế cao vô hạn; nắm được sự lượng tử hóa lần hai. Ở cơ lý thuyết, chỉ độc nhất mỗi nguyên lý tác dụng tối thiểu là phải hiểu. Đây là nguyên lý vô cùng đơn giản mà tinh tế. Tôi cũng rất thích nguyên lý này, nếu rảnh nhất định sẽ có bài riêng cho nó.

Ngoài ra cũng cần học vững vật lý chất rắn, tất cả các môn toán và … thể dục. Theo cuốn Luật trí não của John Medina:

Những người thường xuyên rèn luyện cơ thể thực hiện tốt hơn những người ngồi lỳ ở nhà trong những trắc nghiệm về trí nhớ dài hạn, khả năng lập luận, sự chú ý, cách giải quyết vấn đề, thậm chí thực hiện các nhiệm vụ được gọi là thông minh

Nhớ ăn sáng trước khi tới lớp. Hồi đó tôi có một phương châm là thà đến lớp trễ còn hơn nhịn ăn sáng. Xem ra cũng khá hiệu quả (áp dụng cũng rất thường xuyên :v)

Xem thêm cách thức hoạt động của não để nâng cao hiệu suất làm việc tại www.brainrules.net. Cuốn sách này hiện được bán rộng rãi tại các nhà thuốc, nhầm, nhà sách trên toàn quốc.

Khi đi học nhớ mang những cuốn sách liên quan để tiện tham khảo. Ví dụ như học vật lý chất rắn thì nhớ mang theo cơ lượng tử. Học cơ lưởng tử thì nhớ mang theo cơ lý thuyết vì sẽ có những ý tưởng tương đồng (cơ lượng tử không dùng hình thức luận Lagrange nhưng dùng hình thức luận Hamilton). Hãy ghi chú chi tiết. Nếu có câu hỏi, hãy chú thích lại, sau này sẽ trả lời được. Nói không phải khoe, nhưng tôi được 9.5 điểm môn tích phân lộ trình vì còn giữ một câu hỏi từ hồi học cơ lượng tử. Ra thi thầy hỏi đúng y chang câu đó. Hên :)))

Ngoài ra thì nên có một cái laptop để dễ dàng tìm tài liệu cũng như trao đổi học tập. Nếu được hơn nữa thì mua thêm một cái tablet để đọc sách và ghi chú thẳng trên đó luôn (ghi chú bằng viết). Rất rất tiện. Nội chuyện mua sách photo cũng tốn nhiều tiền và nặng cặp (một cuốn như Landau khá nặng và dày, hơn nữa sẽ khó mang sách khác để tham khảo), khi học có gì không hiểu google ngay. Tuy nhiên khi đọc sách bình thường tôi vẫn khuyến khích đọc sách giấy.

photo 2photo 1

Năm ba sẽ được học các môn: cơ lượng tử 2, lý thuyết nhóm, lý thuyết trường điện từ (kiêm thuyết tương đối hẹp), lý thuyết chất rắn, lý thuyết trường hấp dẫn (thuyết tương đối rộng), lý thuyết trường lượng tử, hệ thấp chiều và hệ nhiều hạt. Năm tư sẽ học các môn: hạt cơ bản, tích phân lộ trình, quang bán dẫn và quang lượng tử, vật lý tính toán, hàm suy rộng và hàm Green.

 

Tất cả các môn sẽ được giới thiệu kỹ, tôi không cần phải nói trước làm gì. Riêng ba môn tôi muốn nói rõ hơn. Thứ nhất và thứ hai là tích phân lộ trình và lý thuyết trường hấp dẫn. Chúng sẽ cho ta thấy được sự điên khùng và đầy tài năng của Feynman và Einstein. Người ta cứ nghĩ cơ lượng tử và cơ tương đối khác biệt hoàn toàn so với cơ cổ điển, thật ra chúng có thể được dẫn dắt từ cơ cổ điển. Nguyên liệu chính là nguyên lý tác dụng tối thiểu. Với nguyên liệu đó, rắc một chút tiêu sẽ ra cơ lượng tử, rắc một chút muối sẽ ra cơ tương đối. Hai môn này thể tài năng của những con người vĩ đại, những môn kia là công sức của một tập thể to lớn, trải dài nhiều thế hệ của các nhà khoa học.

Thứ ba là vật lý tính toán. Môn này sẽ đụng lập trình. Sau này nếu không học lý thuyết tiếp thì vẫn còn lập trình làm cần câu cơm. Cộng đồng khoa học trước đây xài FORTRAN, nhưng sau chuyển sang Python. Một script của Python rất sáng sủa, nhiều chương trình dành riêng cho Python như Matplotlib (vẽ đồ thị), PyMOL (vẽ phân tử, cho ai theo hướng vật lý sinh học), v.v. Cùng một môi trường thì vùng vẫy đã hơn. Tuy nhiên dùng những ngôn ngữ khác cũng được, nếu ai có ý định đi sâu về lập trình. Với những ai như vậy, C hay Java tốt hơn.

Ngoài ra cũng nên tập xài thử Latex. Đây là ngôn ngữ dùng để viết bài báo khoa học. Word đánh cũng không sao, có khi còn đẹp hơn, nhưng nó sẽ chạy chậm nếu đánh nhiều công thức. Tất cả các sách viết nhiều công thức đều phải dùng Latex.


Leave a comment

Tản mạn về mảnh bằng Ph.D

Thông tin về làm thế nào để xin học bổng, TA, RA, xin thư giới thiệu, cách viết dự định cá nhân (personal statement), vân vân đầy rẫy trên các mailing lists trên Internet.

Thế nhưng, một số câu hỏi quan trọng mà tôi ít thấy sinh viên hỏi là: “tại sao lại học Ph.D?”, “có đáng bỏ thời gian học Ph.D hay không?”, “làm thế nào để đánh giá mảnh bằng Ph.D?”, “tôi có đủ khả năng để học Ph.D hay không?”, “học Ph.D xong rồi làm gì?”, vân vân.

Có lẽ ta cần một luận án … Ph.D để trả lời phần nào thỏa đáng các câu hỏi trên. Cũng có lẽ có ai đó trong các ngành giáo dục hay tâm lý học đã làm rồi. Về mặt kinh tế thì một người bạn cho tôi biết đã có cả mớ công trình nghiên cứu về “cái giá của giáo dục” (returns to education).

Trong bài viết này, tôi thử lạm bàn lan man xung quanh các câu hỏi trên. Bài viết hoàn toàn không mang tính hàn lâm (academic), nghĩa là sẽ không có các con số thống kê, bảng phân tích, để ủng hộ một (vài) luận điểm nào đó. Sẽ không có tham khảo đến các nguồn thông tin tín cẩn và các thứ tương tự. Tác giả chỉ dựa trên các kinh nghiệm, quan sát, và suy nghĩ cá nhân, sau gần chục năm học và “hành nghề” Ph.D ở Mỹ.

Tôi chắc là một cá nhân khác trong hoàn cảnh của tôi sẽ có không ít ý kiến bất đồng. Tôi cũng không có tham vọng nói hết được những cóp nhặt kinh nghiệm của mình. Ngoài ra, tôi sẽ nhấn mạnh nhiều hơn mặt trái của việc học Ph.D.

Ðiều tôi hy vọng là qua bài viết này, tôi có thể giúp cho các sinh viên (cùng gia đình) sẽ và đang học Ph.D ít nhiều chuẩn bị tinh thần cho đoạn đường chông gai nhưng thú vị này; hy vọng chỉ ra được một góc nhìn khác về Ph.D so với quan niệm chung của xã hội.

1. Ph.D là gì ?

Trước hết ta hãy thử bàn về mảnh bằng Ph.D từ cái nhìn hàn lâm. Ph.D là viết tắt của chữ Doctor of Philosophy. Học bậc Ph.D, cao nhất trong các học bậc, đầu tiên xuất hiện ở Ðức, sau đó được Mỹ và nhiều nước phương tây khác sử dụng. Bằng Ph.D đầu tiên của Mỹ xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19. (Ơ Y’ cho đến những năm 1980 mới có bằng Ph.D.)

Từ Ph.D có gốc latin là Philosophiae Doctor. Chữ doctor nghĩa là “thầy” (teacher), và “chuyên gia”, “chức trách” (authority). Chữ philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời trung cổ (medieval) ở Châu Ảu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: thần học (theology), luật học (law), y học (medicine), và triết học (philosophy). Philosophy ở đây dùng để chỉ các ngành học không dẫn đến một nghề nghiệp thực tế nhất định của thời đó như người của nhà thờ, luật sư, và bác sĩ.

Ðến nay thì không phải Ph.D nào cũng liên quan đến philosophy, cho dù lấy theo nghĩa bóng nhất của từ này. Tuy nhiên chữ doctor vẫn mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Ở phương Tây, trong nghi thức giao tiếp người ta gọi một người có bằng Ph.D là doctor. Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi toàn bộ giảng viên và các giáo sư có bằng Ph.D. Ða số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng Ph.D.

Tuy vậy, điều ngược lại không đúng: không phải tất cả các Ph.D đều có thể làm giảng viên, giáo sư, hay nghiên cứu viên. Có những Ph.D thậm chí chẳng bằng một kỹ sư thông thường. Cũng có khá nhiều Ph.D, sau khi “hành nghề” một thời gian thì lên chức, hoặc chuyển sang làm salesman hoặc làm quản lý, vân vân. Ta sẽ quay lại đề tài này sau.

Cái nhìn hiện đại của Ph.D như sau. Ðể hoàn tất Ph.D, sinh viên phải đạt được hai mục tiêu chính: (a) hoàn toàn tinh thông một ngành (hoặc phân ngành) nào đó, và (b) góp phần mở rộng khối kiến thức của nhân loại về ngành đó.

Mục tiêu (b) là cái lõi để phân biệt bậc Ph.D với các bậc học khác. Ph.D không phải là cái bằng “nhai lại”: đọc nhiều, thi lấy điểm cao là xong. Một Ph.D đúng nghĩa phải có một vài công trình và ý tưởng nghiên cứu của riêng mình (originality).

Về mặt lý thuyết thì là thế. Thực tế ra sao?

2. “Nghề” Ph.D: đoạn trường cũng lắm chông gai

Ở Mỹ, là sinh viên sau đại học (graduate student) cũng là một nghề. (Tôi không dùng từ “nghiên cứu sinh” vì không phải graduate student nào cũng làm nghiên cứu thực thụ, nhất là các sinh viên đang học thạc sĩ.) Các graduate students thường làm TA hoặc RA, với mức lương khoảng 900USD đến 1200USD một tháng (sau thuế), tiền học được bao. Sống tằn tiện thì mức lương này vừa đủ một người sống. Thường thì các gradudate students sống chui rúc trong một căn hộ nhỏ bé nào đó (dĩ nhiên là có ngoại lệ, đa phần do may mắn), hầu hết thời gian dùng ở các phòng lab (phòng thí nghiệm hoặc phòng máy tính) và thư viện. Tối về đến nhà là lăn ra ngủ để rồi sáng mài mèo con lại hớn hở bút chì bánh mì lên đường.

Kể chuyện cuộc sống gradudate students thì có lẽ cần một tiểu thuyết vài trăm trang. Ðiều tôi muốn đề cập là: trong hoàn cảnh làm việc căng thẳng như vậy, một sinh viên thông thường thỉnh thoảng sẽ phải tự đặt câu hỏi “có đáng không?” Nhất là khi công việc học tập và nghiên cứu không trôi chảy. Mà kể cả khi nó hoàn toàn trôi chảy, tính về các mặt kinh tế, tinh thần, thời gian, và … philosophy, câu hỏi trên vẫn hoàn toàn hợp lệ.

Về mặt kinh tế thì lương trung bình của Ph.D ra trường có nhỉnh hơn thạc sĩ (M.S) và bậc đại học (B.S) một chút, nhưng sự khác biệt này không khỏa lấp được lỗ lã cho thu nhập đã mất trong khoảng thời gian làm Ph.D: trung bình từ 4 đến 5 năm. Tính tổng số USD kiếm được cho mỗi giờ học tập thì Ph.D là hạng bét (tính tương đối theo từng ngành học).

Về mặt tinh thần thì làm việc căng thẳng và cật lực trong một thời gian dài trong một môi trường cạnh tranh tương đối công bằng nhưng khắc nghiệt (!) hoàn toàn có thể ảnh hưởng xấu đến tâm lý cá nhân. Ðiều này đặc biệt đúng với sinh viên du học: thiếu thốn các nhu cầu văn hóa và tinh thần cơ bản của quê hương, cơ hội tìm bạn tình hoặc bạn đời bị giảm thiểu (với phái nam), vân vân. Không phải hiếm mà người ta hay thấy bọn Ph.D hơi … gàn gàn. Công bằng mà nói, gradudate students do thiếu thốn văn hóa hay tìm cách nghiên cứu học hỏi thêm cái này cái khác ngoài ngành của mình (nhạc, thơ, lịch sử, chính trị, triết học, …), cho nên bọn gàn cũng có thể rất đa tài. Ở Mỹ thì địa vị xã hội của một Ph.D cũng chẳng hơn gì các nghành nghề khác là mấy.

Yếu tố tinh thần này rất quan trọng. Có không ít các gradudate students cần đến 8, 9 năm mới làm xong Ph.D. Nhiều năm trời “ở mãi kinh kỳ với bút nghiên”, ngoảnh đi ngoảnh lại chưa làm được gì ra hồn mà đã ngoài 30. Khi thị trường việc cho Ph.D bị thuyên giảm thì người ta rơi vào cái vực muôn thuở: “về hay ở”, “về thì đâm đầu vào đâu?”. Nhiều năm làm việc với mức lương vừa đủ sống, các Ph.D mới ra trường hoàn toàn không dành giụm được gì, chưa nói đến việc nợ thẻ tín dụng kha khá. Dù các nhà chức trách đã có kế hoạch đãi ngộ nhân tài, chế độ này vẫn còn xa rời thực tế. Ðầu tư tinh thần và thời gian của một Ph.D quá nhiều để có thể hài lòng với một công việc một vài triệu đồng một tháng. Họ sẽ phải tự hỏi: nếu xưa mình không đi học thì bây giờ cũng có thể đã phây phây lương vài triệu một tháng? Vậy cả chục năm trời bỏ ra công cốc à? Tôi đã nhập nhằng yếu tố tinh thần và kinh tế, nhưng đôi khi ta không tách rời chúng được.

Một khía cạnh khác của yếu tố tinh thần là sức ép của gia đình và người thân. “Người ta 4 năm đã xong Ph.D, vợ con nhà cửa đàng hoàng, bọn không Ph.D thì cũng giám đốc với trưởng phòng, xây nhà to cửa rộng cho bố cho mẹ; còn mày bây giờ ngoài 30 mà vẫn cứ lông bông tay trắng. Ông chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng”.

Về mặt triết học mà nói thì có đáng học Ph.D không? Câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sinh viên: đi học Ph.D để làm gì? Ta sẽ quay lại điểm này trong phần tới.

Bây giờ hãy giả dụ cô/anh Ph.D yêu dấu của ta tìm được một công việc ổn định ở nước ngoài, quyết định ở lại tích lũy tư bản giúp gia đình và tích lũy kinh nghiệm để sau này, cách này hay cách khác, (về) giúp quê hương. Có hai nhánh công việc chính cho một Ph.D mới ra trường: (a) làm việc ở một phòng nghiên cứu chuyên nghiệp nào đó, và (b) một chân giảng viên hoặc giáo sư ở một trường đại học.

(Hai công việc này có thể chỉ có được sau một vài năm làm postdoc nữa. Ta hãy cứ gộp luôn postdoc vào tổng thời gian cho tiện, mặc dù lương postdoc khá hơn lương gradudate students.)

Lương bổng và giá trị của vị trí mới phụ thuộc hoàn toàn vào việc người ta đánh giá Ph.D như thế nào. Tôi sẽ bàn về việc này trước. Tôi cũng có ý nói lan man vềđề tài “định trị Ph.D” sau khi đọc một bản tin ở VNExpress thấy trong nước người ta có nói về đánh giá Ph.D loại “giỏi, khá, trung bình” (sau một buổi họp nào đó). Phạm vi “định trị Ph.D” của tôi chủ yếu áp dụng cho các nghành kỹ thuật và khoa học tự nhiên như điện, điện tử, khoa học máy tính, toán, lý, …

Khi xưa thì giá trị của một Ph.D mới ra trường tùy thuộc vào giá trị công trình nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Sau khi ra trường thì doctor mới sẽ phát triển công trình này thành một vài bài báo đăng ở các tạp chí (journals) và hội nghị (conference) chuyên ngành. Các bài báo này đều được phê bình (reviewed) bởi các chuyên gia đã trưởng thành trong cùng ngành. Các bài báo không đóng góp gì nhiều hoặc vớ vẩn sẽ không được nhận đăng.

Hiện nay thì áp lực đăng báo (publication) của graduate students khi còn đang học lớn hơn gấp bội. Một công việc kha khá ở một trường đại học hay phòng nghiên cứu danh tiếng thường nhận doctor mới với hơn chục bài báo. Trung bình một giáo sư trẻ mới ra trường trong ngành khoa học máy tính có đến khoảng 3-5 journal papers và cả chục conference papers.

Dĩ nhiên số lượng là thứ yếu, chất lượng mới quan trọng. Một công trình chất lượng cao sẽ được nhiều người biết đến rất sớm, và có thể nói không ngoa là nó quan trọng hơn cả trăm bài báo dạng … “bổ củi”. (Bổ củi là tính từ dân gian trong giới khoa học Việt Nam để chỉ các bài báo thường thường bậc trung, ai làm mãi rồi cũng xong.)

Ðối với Ph.D ở Mỹ thì điểm học trung bình khi học Ph.D hầu như không mang ý nghĩa gì cả, ngoại trừ điểm tối thiểu để có thể được tiếp tục học, khoảng chừng 3.3 đến 3.5 trên 4.0, tùy theo trường. Số lượng và chất lượng các bài báo và các công trình nghiên cứu khác (một ứng dụng máy tính chẳng hạn) mới là tiêu chí đánh giá Ph.D. Không có chuyện người ta xếp loại Ph.D trung bình, yếu, giỏi, khá, vân vân. Lý do chính là: làm chuyện này hầu như là vô vọng. Ai có đủ thẩm quyền và thời gian để đánh giá. Kể cả giáo sư hướng dẫn chưa chắc đã biết hết về phân ngành mà sinh viên của mình làm, huống gì người ngoài. Có rất nhiều công trình đăng báo vài năm hoặc vài chục năm sau người ta mới thấy hết giá trị của nó. Cũng có cả tỉ công trình lúc mới đăng thì ai cũng xúm vào khen, nhưng vài năm sau thì lặng tăm.

Dĩ nhiên có khá nhiều các công trình mà người trong ngành đọc biết ngay là “dỏm” hay “xịn”. Nhưng vấn đề chính là không ai có thời gian xếp loại và định trị Ph.D. Ở Mỹ, kinh tế thị trường tương đối công bằng. Ph.D giỏi sẽ được đồng nghiệp biết đến, tìm được việc ở các trường đại học và phòng nghiên cứu danh tiếng, vân vân. Cũng có thể có Ph.D giỏi không tìm được việc, hoặc Ph.D dỏm “lọt lưới” cung cầu. Các trường hợp này đều là ngoại lệ hiếm hoi.

Lại nói thêm về đăng báo. Ta hãy nhớ mục tiêu (b) của Ph.D: đóng góp vào khối kiến thức của nhân loại. Ph.D mà không có bài báo nào thì có 10 Ph.D cũng hoàn vô nghĩa, theo nghĩa tinh khiết nhất của chữ Ph.D. Chí ít, Ph.D phải chia xẻ các thu lượm và nghiên cứu của mình với đồng nghiệp ở một vài hội nghị và journal danh tiếng nào đó.

Các nhà xuất bản khoa học ở phương Tây cũng làm kinh tế. Có rất nhiều các hội nghị và journals hạng bét, bài vớ va vớ vẩn cũng đăng vào được. Chỉ có người trong ngành mới biết được hội nghị và journal nào có uy tín. Mà kể cả ở các nơi có uy tín này ta vẫn có thể tìm thấy các bài báo tồi.

Tóm lại, công việc “định trị Ph.D” hoàn toàn không đơn giản chút nào. Áp lực phải đăng báo đè rất nặng lên vai các gradudate students. Ngược lại, cảm giác công trình của mình được đồng nghiệp công nhận và đánh giá cao cũng rất tuyệt vời!

Trong 5, 6 năm đầu sau khi ra trường, bất kể công việc là giáo sư hay nghiên cứu viên, áp lực viết báo và xin tiền làm nghiên cứu còn nặng hơn khi còn là sinh viên nữa.

(Ở đây ta loại trừ các trường hợp người ta chỉ muốn có Ph.D để theo đuổi nghề giảng viên (lecturer) nào đó. Có lẽ phải khẳng định rằng mục tiêu này cũng cao quí như các mục tiêu “cạnh tranh khắc nghiệt” khác.)

Nếu Ph.D trẻ không khẳng định được mình trong 5, 6 năm đầu tiên này thì thường là sẽ không giữ được công việc của mình. Có lẽ bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được áp lực này nặng như thế nào. Các bài báo đều là các công trình sáng tạo mà trước đó chưa có ai làm, chưa có ai nghĩ ra (chí ít là về nguyên tắc). Làm thế nào mà ai đó có thể đảm bảo một năng suất sáng tạo nhất định trong một thời gian dài như vậy? Có đáng bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một mục tiêu mà phần thưởng về cả kinh tế, tinh thần, triết học, sức khỏe đều khá mập mờ?

3. Tại sao lại học Ph.D? Có nên học Ph.D không?

Ta thử ghi ra đây một phần nhỏ các lý do:

a) Bạn bè đều đi nước ngoài học sau đại học.

b) Ðược xã hội nể trọng, oách ra phết.

c) Ðể học được kiến thức tiên tiến.

d) Không rõ lắm. Từ bé học đã giỏi, thì cứ tiếp tục học.

e) Có lẽ là con đường duy nhất để cải thiện đời sống gia đình và cá nhân.

f) Ðể mở tầm mắt ra những chân trời mới.

g) Ðể sau này về làm giáo sư đại học.

h) Ðể được làm nghiên cứu khoa học.

i) Ðể thay đổi thế giới quan.

……

z) Tất cả các lý do trên.

Và z phẩy) Không làm Ph.D thì làm gì?

Ðối với đa số gradudate students và graduate-students-tương-lai thì câu trả lời là một tập con khá lớn của vài tá câu trả lời mà ai cũng có thể nghĩ ra.

Ta hãy thử phân tích vài chọn lựa quan trọng nhất.

Làm Ph.D để mở mang kiến thức. Ðây là một mục tiêu rất quan trọng và mang tính cá nhân. Mark Twain từng nói: “đừng để trường lớp cản trở con đường giáo dục của bạn” (Don’t let school get in the way of your education). Trường lớp không phải là con đường duy nhất đến Rome của tri thức. Tuy vậy, trong hoàn cảnh lạc hậu của một nước thế giới thứ ba như Việt Nam ta, thì ra nước ngoài học thêm là con đường hữu lý.

Câu hỏi chính mà ta nên đặt ra là chỉ nên học M.S thôi, hay là học cả Ph.D. Chỉ về kiến thức mà nói, thì hai năm M.S cũng đủ cho một sinh viên thông minh sau đó tự học. Làm Ph.D cũng đa phần là tự học thôi.

Làm Ph.D để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được xã hội nể trọng hơn; vì bạn bè ai cũng học Ph.D; có bằng Ph.D rất oách; từ bé đã học giỏi thì cứ tiếp tục học; vân vân.

Một Ph.D thực thụ sẽ cho bạn biết rằng các lý do loại này đều là sai lầm to lớn! Tôi hoàn toàn không có ý định “giảng đạo” về chọn lựa cá nhân của ai. Tôi cũng không nói động cơ “hám bằng cấp” hay “oai oách” là sai trái. Ðó là chọn lựa của từng cá nhân. Ðiểm tôi muốn nói là các động cơ loại này sẽ không thể giúp sinh viên hoàn thành tốt việc học Ph.D. Việc hay so sánh mình với bạn bè và người khác sẽ tạo nên áp lực tinh thần không thể chịu nổi trong khi học. Yêu thích “tiếng tăm” cũng vậy. “Học giỏi”, theo nghĩa ở ta, là thi thố điểm cao và “nhai lại” những gì được dạy, cho nên học giỏi chưa chắc đã liên quan mấy đến khả năng sáng tạo – khả năng sống còn của Ph.D.

Từ khóa dẫn đến thành công của sinh viên Ph.D phải là “đam mê”. Ðam mê học hỏi và sáng tạo trong một phân ngành nhất định! Trừ những người thật sự xuất chúng thì đa số chúng ta sẽ không thể làm thành công Ph.D ở một ngành nào đó chỉ vì “xã hội cần nó”, hay “nó kiếm ra tiền”.

Nếu chỉ đam mê học hỏi không thôi thì cũng không đáng bỏ ra ngần ấy thời gian để làm Ph.D. Ta hoàn toàn có thể làm M.S rồi tự đọc, tự học thêm.

Tất cả các thành quả như chức vụ, danh tiếng, oai oách, vân vân đều phải, và nên, là sản phẩm phụ của quá trình theo đuổi nỗi đam mê sáng tạo và mở mang tri thức này.

Ðấy là nói về “động lực” học Ph.D. Thế còn “khả năng” thì sao? Quá trình học Ph.D lên xuống như hình sin. Sẽ có bao nhiêu trở ngại kinh tế, tinh thần phải vượt qua. Một trong những trở ngại lớn nhất là: sau một vài thất bại trong nghiên cứu, các sinh viên sẽ phải tự hỏi “ta có đủ khả năng làm Ph.D không nhỉ?”

Ðam mê và khả năng tạo thành cái vòng luẩn quẩn. Ta có xu hướng đam mê cái mà ta giỏi, và ta thường xuất sắc ở công việc mà ta đam mê. Nhảy vào được cái vòng này là hành trình cá nhân. Có lẽ không ai trả lời thay ta được.

4. Phụ huynh: xin đừng gây áp lực tâm lý

Không ít các bậc phụ huynh mà tôi được dịp quan sát đặt rất nhiều kỳ vọng vào con em mình về con đường hàn lâm. Họ đầu tư tiền bạc và thời gian, nuôi niềm hy vọng ngày nào đó sẽ có một “trạng nguyên” vinh quy bái tổ, nở mày nở mặt với hàng xóm láng giềng và bè bạn. Chuyện này có ở tất cả các học bậc, không riêng gì Ph.D. Tuy vậy, áp lực ở Ph.D lớn hơn khá nhiều vì graduate students sẽ phải cạnh tranh với các sinh viên xuất sắc trên toàn thế giới.

Tôn trọng tri thức và học tập là điều tốt, và bằng cấp là một thước đo tương đối chính xác của tri thức. Nhưng nó không phải là thước đo duy nhất. Ðó là chưa nói đến các câu hỏi như: đạt được tri thức loại gì thì mới được coi là “thành nhân”? Khó mà có thể đo lường xem một Ph.D và một anh đạp xích lô ai có “đóng góp” nhiều hơn cho xã hội, hay ai “hạnh phúc” hơn ai, theo bất kỳ nghĩa nào của các từ này. Có một ranh giới rất bé giữa “tôn trọng tri thức” và “hám bằng cấp”.

Hy vọng tôi đã hay sẽ thuyết phục được bạn rằng Ph.D cũng thượng vàng hạ cám. Một Ph.D về khoa học máy tính chẳng hạn, nếu làm nghiên cứu về một phân ngành chẳng ai quan tâm, đăng vài bài báo ở các chỗ linh tinh, thì sẽ từ từ xa rời dòng chảy chính của tri thức nhân loại. Có không ít Ph.D về khoa học máy tính lập trình không ra hồn, thua hẳn một kỹ sư thông thường, chính là vì lý do này.

Tôi lại triết lý 3-xu rồi. Ðiều tôi muốn nói là niềm “hy vọng” của các bậc phụ huynh tạo áp lực cực lớn ảnh hưởng đến kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trong khi chọn lựa nghề nghiệp tương lai đáng lẽ nên là chọn lựa cá nhân!

5. Ðạt được Ph.D chỉ là bước đầu

Còn khá nhiều điểm khác tôi muốn nói, nhưng bài đã dài. Lấy Ph.D chỉ là bước đầu rất nhỏ của một nghề nghiệp, cũng như bao nhiều nghề nghiệp khác. Có Ph.D có thể đồng nghĩa với những phần thưởng đáng quí về kinh tế và tinh thần về cả mặt xã hội lẫn cá nhân, nhưng bù lại cái giá phải trả về mọi mặt cũng cao không kém. “Nghề” Ph.D chẳng cao quí hơn nhiều nghề khác, mà thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn khá nhiều.

Cuộc sống và các chọn lựa cá nhân lẽ dĩ nhiên là phức tạp. Tôi hy vọng qua bài viết này các bạn trẻ có thể có một cái nhìn và suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi theo đuổi “con đường đau khổ” này. Ta không thể theo nó chỉ vì các ảo tưởng danh tiếng, bằng cấp và tiền bạc. Ðầu tư như vậy không có lãi!

Một trong những điều kiện cần cho nghề này là khả năng theo đuổi nỗi đam mê nghiên cứu và sáng tạo trong một thời gian dài. Bằng Ph.D chỉ là một bước cỏn con trong hành trình chông gai nhưng thú vị này. Nó hoàn toàn không phải là con đường duy nhất.


Lấy từ website của Ngô Quang Hưng
http://www.cse.buffalo.edu/~hungngo/

Xem thêm: So long, and thanks for the Ph.D.!